![]() |
||
|
Ban Biên Tập
Liên lạc
419 Bali Street (714) 775-1522
|
Phát Huy Tinh Thần Petrus Kư: Một Quốc Sách Giáo Dục Phạm Hồng Đảnh 1. Một Niềm Tin Tưởng và Hănh Diện Vô Biên. Nh́n lại cuộc đời của ông Petrus Kư chúng ta thấy rơ các quy định của Khổng Giáo được áp dụng chặt chẽ từng bước một vào đời sống của ông. 1.1. Tin Tưởng và Hănh Diện về đời sống, sở học, tư tưởng và sự nghiệp của danh nhân Petrus Kư. 1.1.1. Tu thân - Ấu nhi học. Trách nhiệm với bản thân. Mồ côi cha ăn cơm với cá (Lại thêm được đi học!) Mồ côi mẹ lót lá mà nằm. Là người gốc Cái Mơn, Tổng Mỹ Lệ, Huyện Tân Minh, Tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre) Miền Tây Nam Việt. Bà Nguyễn Thị Châu, góa phụ của lănh binh Trương Chánh Thi, sứ thần Việt Nam ở Cao Miên, đă gởi cậu bé Trương Vĩnh Kư theo anh đi học với ông giáo Học trong làng để bà có th́ giờ làm việc kiếm tiền nuôi con. (Lănh Binh liêm chính nên nhà nghèo!). Lúc nhỏ đă ham học, lên 5 tuổi Trương Vĩnh Kư đă thuộc ḷng Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bửu Giám. Lên 11 tưổi đă thuộc ḷng Tứ thư, Ngũ Kinh, học chữ quốc ngữ. Từ 13 tuổi đến 21 tuổi, trong không khí thánh thiện của chủng viện Thiên Chúa Giáo ở Poulo Pénang (Mă Lai), Petrus Kư chỉ biết học là học. Ông dùng hết th́ giờ để học „gạo“: học đạo, học chữ La tinh, học nhiều sinh ngữ với các bạn trong viện. Đặc biệt nhất, ông học tiếng Pháp qua chữ La tinh. Là học sinh xuất sắc nhất của viện, trong một kỳ thi luận văn bằng tiếng La Tinh Petrus Kư được giải thưởng hạng nhất 100 bảng Anh của viên Thống Đốc người Anh. Sự thâm hiểu tiếng Pháp và căn bản Nho Học đă có một ảnh hưởng thật sâu đậm vào đời ông.
1.1.2. Tráng nhi hành, Tam thập nhi lập, Tứ thập bất cập, Ngũ thập tri thiên mạng. (Lớn lên con phải hành động, 30 tuổi con phải lập gia đ́nh sự nghiệp, công danh, 40 tuổi trễ rồi, không c̣n kịp nữa, 50 tuổi biết số trời đă định không c̣n thay đổi được nữa.) Năm 21 tuổi, mang nặng chữ Hiếu ông về nước thọ tang mẹ (1858), lúc hải quân Pháp, Tây Ban Nha đánh phá Cửa Hàn. Qua hai giai đoạn Tu thân và Tề gia rất đúng thời gian và đầy đủ. Trong các giai đoạn Tu Thân (học tập, rèn luyện tài đức, ư chí, sức khỏe để chuẩn bị cho một cuộc sống thành công), và Tề gia ông phát triển tới mức tối đa tài đức để bước qua giai đoạn Trị quốc (nghĩ tới việc nước, làm việc hữu ích cho quốc gia dân tộc, làm việc xă hội, giúp đời) một cách thành công mỹ măn. Lănh việc nước, ông gia nhập phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp để chuộc ba tỉnh Miền Đông và viếng các nước Âu Châu (1863). Sự kiện ông quá giỏi tiếng Pháp đă làm cho Hoàng Đế Napoléon III và cả triều đ́nh Pháp ngạc nhiên. Trong các cuộc tiếp xúc, tài năng của ông đă khiến cho giới đại trí thức Pháp nể phục (Victor Hugo, Littré, Duruy, Paul Bert, Ernest Renan...). Ông được liệt vào danh sách “Dix-huit Sommités Culturelles et Scientifiques du Monde” (1873-1874). (18 Nhà Văn Hóa và Khoa Học Gia đứng đầu trên thế giới). Là người Việt Nam đầu tiên được may mắn viếng thăm nhiều quốc gia Đông Nam Á và Âu Châu. Có được cái nh́n „b́nh thiên hạ“, am hiểu t́nh h́nh thế giới (các nước Âu Châu đua nhau t́m thuộc địa ở Á Châu) ông biết rơ ư đồ thôn tính Việt Nam của Pháp. Có tài được sung vào Cơ Mật Viện, ông thông suốt t́nh h́nh quốc gia, hoàn cảnh đất nước. Từng chứng kiến các tiến bộ kỹ thuật, văn minh, khoa học Âu Tây, ông sáng suốt „tri thiên mạng“. Biết rơ số phận dân tộc Việt Nam c̣n quá chậm tiến, ông thận trọng vạch ra đường lối cho hành động của ḿnh để không bị nguy hiễm, đường lối thuận lợi cho quốc gia dân tộc, giáo dục giới trẻ Việt Nam, ông đặt tin tưởng mănh liệt vào họ. Trong thời kỳ sơ khai của nền văn hoc chữ quốc ngữ, công tŕnh văn hóa của ông thật là vĩ đại với hơn 118 tác phẩm: Bảo tồn văn hóa, dịch thuật và chú thích sách chữ Nho, Chữ Nôm, sách Pháp, làm chủ bút Gia Định Báo (1869-1972), viết sách để truyền bá quốc ngữ, dạy học tṛ, hy sinh tài sản in sách để phổ biến trong khắp dân gian đến mắc nợ, đam mê làm việc đến quên chăm sóc sức khỏe thường hay đau yếu. Với ḷng nhân và t́nh thương dân tộc bao la như trời biển, ông Petrus Kư dường như muốn ôm tất cả người Việt chúng ta vào ḷng! Tất cả cho dân tộc, cho các thế hệ tương lai! Ông Petrus Kư đă thấu triệt tôn chỉ nhà giáo: „Hết ḷng dạy cho tuổi trẻ tài giỏi hơn thế hệ hiện tại. Là tương lai đất nước, tuổi trẻ sẽ làm được những ǵ mà các thế hệ đă qua không làm được. Hậu sanh khả úy! Toàn dân đặt tất cả tin tưởng vào thanh niên Việt Nam.“ Trong lời nói đầu của quyển „Bài giảng về Lịch sử An Nam“, Ông Petrus Kư đă viết: „Cho học tṛ các trường đất Nam Kỳ, Ớ các tṛ trai, ta xin hiến sách nầy cho các tṛ... v́ làm ra nó là làm cho các tṛ coi... Đến sau khi anh em đă thành tài, biết bắt biết hạch được th́ hăy dung thứ cho các lớp trước anh em v́ những kẻ ấy chẳng có được các phương tiện mà học hành như anh em bây giờ.“ Tại Chợ Quán, ngày 25 tháng 02, 1875 P.J.B. Trương Vĩnh Kư Petrus Kư sáng suốt thấy rơ hố sâu chia rẽ các thế hệ, vấn đề chuyển tiếp thế hệ rất nhiêu khê nên ông cố gắng dạy lớp trẻ thông cảm với thế hệ già để đoàn kết kiên nhẫn hợp sức lo cho dân tộc, đất nước. Tất cả cho giới trẻ. Mọi hành động cử chỉ, cách ăn mặc của ông đều ngụ ư dạy tuổi trẻ tinh thần hiên ngang bất khuất „sic vos non vobis“ ở với họ mà không theo họ= ở với Tây (làm việc với Tây) mà không theo Tây. Tượng bán thân nghiêm trang đặt ở giữa sân trường Petrus Kư chúng ta, tượng toàn thân bằng đồng hiên ngang uy nghi trước dinh Độc Lập đều do thân hào nhân sĩ Miền Nam quyên tiền thực hiện như có một giá trị huyền thoại. Chỉ nh́n kỹ bức tượng của Người, tuổi trẻ và đồng bào Miền Nam lấy ra được nhiều bài học quí giá. Y phục thuần túy Việt Nam, áo dài, khăn đống, như muôn đời nhăÙc nhỡ người Việt phải luôn luôn giữ quốc hồn quốc túy, phải cố gắng tự học để vương lên mạnh. Quốc phục khác biệt với đồ „Tây“ như thầm bảo: „Nước ta đang bị nhục Tây cai trị đó, phải bất khuất vùng lên!“ Một ngực huy chương các nước phong tặng, vua Đồng Khánh phong tặng như nói lên: „Dân Nam Việt không thua bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Người dân Việt phải làm rạng danh đất nước, ṇi giống Việt“. Ông Petrus Kư theo học các trường đạo, chịu ơn giáo hội Thiên Chúa Giáo nhưng không theo đường lối Giáo Hội vạch ra là „làm Linh Mục“, ông không bao giờ giảng đạo hay tuyên truyền cho Thiên Chúa Giáo, tuy nhiên, ông không bao giờ phản lại Giáo Hội. Đối với ông, Đạo và Đời là hai lănh vực riêng biệt. Ông luôn luôn đi sát với đời, phục vụ dân tộc. Lúc tả ngạn sông Cửu Long bị Thái Lan xâm lấn, Triều Đ́nh Huế bó tay v́ Pháp nắm hết quyền chánh trị và quân sự, ông đă yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải bảo vệ và duy tŕ quyền lợi của Việt Nam. Sau đây là bài dịch bức thơ ông Petrus Kư gởi cho Ông Navelle, Tổng Lư, Quyền Trợ Lư Khâm Mạng Toàn Quyền Pháp:
Saig̣n, ngày 12 tháng 5 năm 1888
Kính gởi Ngài Navelle, Tổng Lư, Quyền Trợ Lư Khâm Mạng Toàn Quyền,
Tôi hân hạnh xin Ngài lưu tâm về một vấn đền quan trọng trong lúc nầy. Đó là quyền của nước An Nam trên lưu vực sông Cửu Long [tả ngạn}. Hiện nay những quyền này là quyền của nước Pháp, đại diện ngoại giao cho Việt Nam, chiếu theo Ḥa Ước 1884. Chính Phủ Xiêm La đă lợi dụng lúc chính phủ nước Nam bận rộn trong nước ở phía đông, chểnh mảng ở phía tây để bắt đầu cuộc xâm lấn ở tả ngạn sông Cửu Long. Theo ư kiến vụng về của tôi th́ nên cử ngay một ủy ban ấn định biên giới bởi v́ không có một sự ấn định ranh giới rơ rệt nào đă được thực hiện. Nước Pháp chỉ cần thúc đẩy Quốc Vương và Triều Đ́nh Huế gởi người đ̣i tam niên cống phẩm nơi các thuộc xứ: Luang Prabang, Vieng Chan, Thụy Xa.v.v... và chiêÙm lại các đồn lũy cũ vô điều kiện. Nếu người ta cung cấp vũ khí cho người nước Nam, họ sẽ tống xuất những kẻ xâm lấn không chút khó khăn. Trong trường hợp có thể Xiêm La yêu cầu giải thích hoặc tŕnh bày nhận xét th́ trong khi chiếm nước, người ta có thể chấp nhận cho họ những cuộc hội nghị, ở đó sẽ không khó để khéo léo chứng tỏ cho họ rằng nước Nam không bao giờ chối bỏ quyền của ḿnh trên tả ngạn sông Cửu Long. Thưa ngài Khâm Mạng Toàn Quyền, đó là những điều tin tưởng chắc chắn mà kinh nghiệm từ lâu đă cho tôi biết về các xứ nầy... P. Trương Vĩnh Kư. (P. Kư Tân Văn Hồng dịch)
Nhiều lần ông yêu cầu Toàn Quyền Paul Bert thi hành linh động và uyển chuyển các Ḥa Ước Pháp đă kư với Việt Nam để có lợi cho Việt Nam. Điều này đă làm cho Pháp nghi ngờ ông và về sau ông bị Pháp thất sủng. Ông Petrus Kư đă thấy rơ và không muốn làm việc với Pháp nữa. Lúc từ biệt vua Đồng Khánh, ông được vua phong hiệu là Nam Trung Ẩn Sĩ. Phó Toàn Quyền Paulin Vial nghi kỵ ông, không trả lương và cho ông nghỉ việc sau khi ông Petrus Kư xin thôi việc ở Cơ Mật Viện. Chánh quyền Pháp ở Đông Dương đă ba lần viết thư mời Ông vào quốc tịch Pháp, nhưng Ông đều từ chối. Ông khẳng định thế đứng của Ông trong thư trả lời cho Pène Siefert: „... Một khi nhập quốc tịch Pháp, tôi sẽ mất tất cả uy tín, tất cả ảnh hưởng, sẽ không c̣n sự tín nhiệm của Vua, của Triều Đ́nh và của dân tộc tôi...“. Khi môn đệ hỏi thăm Ông về việc vào dân Pháp, Ông trả lời: „Nếu ḿnh vào bộ dân Lang Sa, thời mất bộ dân An Nam c̣n ǵ? Vă bộ dân An-Nam xấu lắm sao?“ và Ông nhất quyết không vô dân Tây! Điều nầy cũng làm cho Pháp nghi kỵ và bản thân Ông cũng mất nhiều quyền lợi. Ông Petrus Kư là một nhà ái quốc, biết rơ và binh vực quyền lợi đất nước, trung với Vua hết ḷng lo cho dân. Các hành động trên đây giúp ta thấy rơ một số người hoàn toàn sai lầm khi vu cáo Petrus Kư là tên Pháp v́ Ông theo Pháp, vô dân Pháp nên Ông chọn cho ḿnh một tên Pháp! (tên thánh Jean Baptiste Petrus, Petrus là tiếng La tinh trên chữ e không có dấu sắc). Họ cũng chụp mũ Ông là tay sai của thực dân Pháp nên Pháp lấy tên Ông đặt cho trường. Ngược lại, thực dân Pháp đă lợi dụng tên tuổi, sự nổi tiếng của ông Petrus Kư để tuyên truyền cho nền bảo hộ và cai trị của họ. Nhằm mục đích xoa dịu phong trào chống đối của nhân sĩ tân học Miền Nam vào đầu thế kỷ XX do Đốc Phủ Sứ Trần Chánh Chiếu lănh đạo, Pháp đă lấy tên Petrus Kư đặt cho trung học lớn nhất Miền Nam. Sự kiện này có thể được diễn dịch như sau: „Người bản xứ có thấy rơ không? Danh nhân bản xứ có công lao làm việc tốt đẹp cho dân Miền Nam cũng được hưởng danh dự lấy tên đặt cho trường như những người Pháp có công đến khai phá mở mang vùng Nam Kỳ, giúp dân Nam Kỳ tiến lên văn minh Âu Châu:Chasseloup Laubat, Le Myre de Villers, Albert Sarraut“ (sic!)
1.1.3. Đền ơn nơi chôn nhau cắt rún Tất cả cho quê hương yêu dấu! Ông Petrus Kư mang về Cái Mơn giống các loại trái cây quí, lạ từ „Miền Dưới“(các xứ phía nam Việt Nam: Mă Lai, Nam Dương, Thái Lan v.v...): ḅn bon, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, „dâu miền dưới“ về trồng làm cho đời sống nông thôn ở Cái Mơn trở nên trù phú. Rồi từ Cái Mơn các loại cây nầy phát triển sang Nha Mân, lên Lái Thiêu, B́nh Nhâm, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bà Rịa ... Mỗi năm, từ tháng 5 đến tháng 10, các chợ miền Nam tràn ngập các loại trái cây quí nầy. Đời sống dân Miền Nam như vui tươi rộn rịp hẳn lên. Ai nấy vui vẻ đua nhau mua các loại trái cây „Miền Dưới“ nầy. Nhiều người dân Sài G̣n và các vùng lân cận lên tận các vườn trên Lái Thiêu, B́nh Nhâm thưởng thức. Đến bây giờ vẫn c̣n một thói quen ngộ ngộ „bao bụng“: mỗi người khách chỉ cần trả cho chủ vườn một món tiền nhỏ là được ăn „thả giàn“, tới „no cành hông“ thôi! Năm nào cũng vậy, Ông Petrus Kư đem lại nụ cười hạnh phúc cho dân Miền Nam. Đội ơn Ông giúp phát triển nền kinh tế nông nghiệp trong vùng, người dân Cái Mơn lập đền thờ Ông rất lớn, hương đăng trà quả, quanh năm khói hương nghi ngút.
1.2. Tin Tưởng và Hănh Diện về Trường ta Nhằm xoa dịu phong trào chống đối tại Miền Nam sau Thế Giới Đại Chiến I(1914-1918) do Đốc Phủ Sứ Gilbert Trần Chánh Chiếu đề xướng các thân hào nhân sĩ và các nhà trí thức tân học đấu tranh đ̣i tự do dân chủ, phát triễn giáo dục cho miền Nam, Chánh Phủ cấp tiến Pháp chỉ thị cho Toàn Quyền Alexandre Varenne thực hiện việc xây cất trường. Trường được kiến trúc theo họa đồ đặc biệt cho các vùng nhiệt đới của kiến trúc sư Pháp Hébrard de Villeneuve trên „La Célèbre Plaine des Tombeaux“, „Cánh Đồng Mă“ơ có tiếng nhất miền Nam, rộng 13 mẫu, „Mă Ngụy“ nơi Thái Công Triều hành quyết và chôn tướng Lê Văn Khôi, con nuôi Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt và các nghĩa sĩ miền Nam làm phản chống lại sự bất công của Bạch Xuân Nguyên và triều đ́nh Huế đối với Đức Tả Quân. Khu đất xây cất Trường Petrus Kư là một vùng địa linh nhân kiệt măi măi phảng phất hồn thiêng các anh hùng miền Nam. Theo truyền thống các nước Tây Phương lấy tên danh nhân địa phương đặt cho trường sở tại để làm gương tốt cho học sinh và dân chúng hănh diện, Thống Đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse đổi tên „Collège de Cochinchine“ (Trung Học Đệ Nhứt Cấp Nam Kỳ) thành „Lycée Petrus Trương Vĩnh Kư“, Trung Học Đệ Nhị Cấp đầu tiên duy nhất cho người bản xứ, khánh thành năm 1928. Tượng toàn thân Petrus Kư bằng đồng đặt trước dinh Toàn Quyền về sau là dinh Độc Lập, tượng bán thân đặt giữa sân trường ta là do thân hào nhân sĩ Miền Nam quyên tiền thực hiện. Như được anh linh bất khuất các nghĩa sĩ Miền Nam pḥ hộ, noi gương Petrus Kư ngầm chống Pháp, noi gương các thân hào nhân sĩ Miền Nam đấu tranh chống Pháp, học sinh Petrus Kư có tinh thần ái quốc rất sớm. Như tíếng sét long trời ở Miền Nam, hiện tượng lịch sử linh thiêng xuất hiện ở ngôi trường Trung học Đệ Nhị cấp thân yêu của chúng ta. Phong trào „Đoàn Hùng“ đầu tiên qui tụ thanh niên học sinh Miền Nam đă xuất phát từ Trung Học Petrus Kư, rồi đến Mỹ Tho và Cần Thơ. Bài hát „Đoàn Hùng“ có những câu kêu gọi thanh niên như sau: „Khắp trong sơn hà sấm thiêng thét rền, Nào ai son sắt đứng lên cùng t́m tương lai...“ Như hiều rơ thông điệp của ông Petrus Kư, các thế hệ đầu tiên của Trường đă thành tâm nhận lănh trách nhiệm quan trọng người giao phó. Các „chàng tuổi trẻ Petrus Kư“ đă thể hiện trách nhiệm nặng nề Ông để lại bằng h́nh ảnh lư tưởng yêu nước cao thượng nhất trên phù hiệu của trường, „Bó đuốc đỏ rực soi sáng cả bầu trời xanh“. Viền bên phải của bó đuốc mang h́nh chữ S, h́nh đất nước Việt Nam thân yêu. Lư tưởng của anh em Petrus Kư: „Quyết tâm làm sao cho nước Việt Nam chúng ta thành bó đuốc soi sáng thế giới.“
1.3. Tin Tưởng và Hănh Diện về Các Thế Hệ Đàn Anh Petrus Kư Từ những khóa đầu tiên, các đàn anh Petrus Kư xứng đáng là tinh hoa của Miền Nam, những hột gạo cội trong các hột gạo cội. Các anh đă qua được chương tŕnh nhồi sọ của ban Tú Tài bản xứ (Bachot Local, c̣n gọi là chương tŕnh Thalamas bao gồm hết các môn học ở 4 ban ABCD, có chiều rộng nhằm mục đích đào tạo một số công chức giúp việc trong bộ máy hành chánh không có chiều sâu chuẩn bị lên đại học, nặng gắp 4 lần ban Tú Tài mẫu quốc (Baccalauréat Métropolitain) dành cho con cháu thực dân Pháp và con cháu tay sai thân tính của họ. Noi gương sáng của Ông Petrus Kư, từ khóa đầu tiên các anh đă đề ra và làm đúng phương châm của người Học sinh Petrus Kư: a.- Luôn luôn nêu cao tinh thần yêu nước, nêu cao danh dự và trách nhiệm lo cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Sic vos non vobis = Ở với họ mà không theo họ.(Học với Tây, các anh không theo Tây!) b.- Đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ và giàu mạnh. c.- Luôn luôn đi trước hướng dẫn các phong trào thanh niên học sinh. d.- Luôn luôn đạt được những thành quả cao về học tập, văn nghệ, thể thao, thể dục. Từ 1927 đến 1975 Trường rất hănh diện v́ đă đào tạo rất nhiều nhân tài cho đất nước. Nhiều chính trị gia, khoa học gia, chuyên viên giáo dục, kinh tế, y khoa rất tự hào là đă xuất thân từ trường Petrus Kư như nhà Bác học Nguyễn Đạt Xường, Chủ Tịch Thượng Viện Việt Nam Cộng Ḥa Trương Vĩnh Lễ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện Trần Minh Tiết, 7 trong 9 vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Việt Nam Cộng Ḥa là cựu học sinh Petrus Kư, thẩm phán tiến sĩ Phạm Đ́nh Hưng soạn thảo Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa. Chính trị gia giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Huy, Tổng Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Lắm, Tổng Trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Giáo Sư Nguyễn Ngọc An, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục Phan Văn Chức, Tổng Trưởng Công Chánh Giao Thông Dương Kích Nhưỡng, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục Văn Hóa và Thanh Niên Ngô Khắc Tỉnh, Giáo Sư Tiến Sĩ Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Thứ Trưởng Giáo Dục-Viện Trưởng Đại Học Bách Khoa Sài G̣n Giáo Sư Đỗ Bá Khê, Giáo Sư Bác Sĩ Đặng Văn Chiếu Khoa Trưởng Đại Học Y Khoa Sài G̣n, Tiến Sĩ Nguyễn Vĩnh Niên Khoa Trưởng Đại Học Dược Khoa .v.v. Tiền Phong nảy tuấn kiệt, thử thách trong đấu tranh đă trui rèn các anh thành những lănh tụ xứng đáng. Các anh đă thành công và tiến thêm một bước dài, các anh đă thành nhơn chi mỹ. Các anh là những tấm gương thật trong sáng cho các thế hệ đàn em. Các anh đă cố gắng trở nên một chân giá trị thay v́ làm những hành động đoản kỳ biểu diễn. Là kẻ sĩ các anh đă thân t́nh trao lại cho đàn em Petrus Kư và cho tuổi trẻ Việt Nam „bó đuốc ngời sáng“ mang thông điệp của ông Petrus Kư và kinh nghiệm quí báu của các anh. Các anh đă phục vụ dân tộc hữu hiệu. Học với Tây mà không theo Tây, các anh đă bất khuất dấn thân hối thúc giới trẻ và toàn dân Việt Nam dấn thân trong tin tưởng, tin tưởng sức mạnh của tuổi trẻ, sức mạnh của dân tộc và thế tất thắng của chính nghĩa. 1941 Việt Nam có 18 triệu dân, ngày nay 80 triệu dân Việt Nam có một sức mạnh vô địch. Có dân th́ không thể thua. Đó là kinh nghiệm quí báu muôn đời luôn luôn thích hợp với mọi t́nh thế tuổi trẻ măi măi sẵn sàng tiếp nhận. Năm 1939 Thế Chiến II bùng nổ, Pháp bại trận yếu đi. Nhựt đến Đông Dương. Học sinh Petrus Kư là những thiếu niên anh hùng tạo thời thế, những vị cứu tinh của dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, anh em Petrus Kư kêu gọi thanh niên Việt Nam đứng lên làm lịch sử.
Nào anh em đàn trẻ nước Nam Việt Nam, Chúng ta mau kết đoàn tiến lên đường sáng... (Thiếu Sinh Hành Khúc) Ta, người Việt Nam..... (Lên Đàng) Việt Nam mến yêu, ngh́n ánh vinh quang (Khúc Khải Hoàn) Rạng chiếu sơn hà ngàn xưa. (ngày đất nước độc lập, dân tộc oai hùng) ...Ta xin liều thân sống, ta xin hiến tất ḷng, Ta thề nh́n non sông báo ân (Thanh niên nhận lănh trách nhiệm với đất nước) Nầy Sinh Viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi, (Tiếng Gọi Sinh Viên, Đồng ḷng cùng đi, đi, đi mở đường khai lối! (tiền thân của Quốc ca) V́ non sông nước xưa truyền muôn năm chớ quên, Nào anh em Bắc Nam, cùng nhau ta kết đoàn!... Đồng tâm cương quyết chúng ta vùng lên, (Hiệu ca Petrus Kư) Mong phỉ chí nam nhi, tái thiết nước nhà mến yêu! (Tái thiết Quốc Gia dưới thời Pháp thuộc!)
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng nhưng không có nhạc hùng. Hùng ca Petrus Kư, nhạc hùng dân tộc đến với nền tân nhạc Việt Nam (1938). Trong thời gian đầu tiên của nền tân nhạc, các hành khúc Petrus Kư (1941...) là tiếng nói của thanh niên Miền Nam anh hùng. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam các tiếng đoàn kết, kết đoàn, đồng ḷng, đồng tâm, vùng lên, đứng lên kêu gọi thanh niên, nhân dân dũng cảm tập họp, tạo lực lượng chống đối lật đổ chế độø cầm quyền không phát xuất từ nhân dân. Anh em Petrus Kư kêu gọi thanh niên Việt Nam tự nguyện lănh trách nhiệm quyết định vận mạng đất nước, lật đổ chế độ bảo hộ thuộc địa, đánh đuổi Tây ra khỏi xứ. Anh em Petrus Kư đi trước khai lối mở đường tranh đấu chống Pháp, Nhựt giành độc lập, xây dựng tự do dân chủ. Thanh niên tự quyết là dân tộc tự quyết. Hùng ca „Tiếng Gọi Sinh Viên“ hay „Sinh Viên Hành Khúc“ (Marche des Étudiants), nhạc của Lưu Hữu Phước viết từ lúc c̣n học ở Petrus Kư (Nguyễn Ngọc Huy, Di Cảo III), được anh Nguyễn Tôn Hoàn, chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên chọn làm tiếng nói chánh thức của Tổng Hội Sinh Viên (Association Générale des Étudiants Indochinois). Ủy ban soạn thảo lời ca Pháp và Việt gồm các học sinh Petrus Kư: các anh Đặng Ngọc Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Ḥa, Nguyễn Thành Nguyên, Mai Văn Bộ... xuất thân từ Trung Học Đệ Nhứt Cấp Cần Thơ lên học Trường Petrus Kư. (Nguyễn Ngọc Huy, Di Cảo III). Lời Pháp cho sinh viên Đông Dương và lời Việt riêng cho sinh viên Việt Nam. Ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên tổ chức nhạc hội lấy tiền giúp bịnh nhân nghèo, bản „Sinh Viên Hành Khúc“ được tŕnh bày với tánh cách là tiếng nói chánh thức của Tổng Hội Sinh Viên. Vào dịp lễ măn khóa năm 1942 của Viện Đại Học Hà Nội có Toàn Quyền Đông Dương và nhiều viên chức cao cấp Pháp đến dự, bản „ Tiếng Gọi Sinh Viên „ được dàn nhạc Hải Quân Pháp tŕnh tấu. Âm điệu hùng hồn của bản nhạc đă làm cho mọi người khích động và khi bản nhạc được trổi lên, Toàn Quyền Pháp, tất cả các viên chức cao cấp Pháp, toàn thể mọi người tham dự đều nghiêm chỉnh đứng lên chào (Nguyễn Ngọc Huy, Di Cảo III). Sau đó hành khúc „Tiếng Gọi Sinh Viên“ được phổ biến khắp Miền Nam. Các thế hệ lớn làm thế nào quên được những ngày hè 1942, 1943 ở vườn Ông Thượng, các cựu Petrus Kư thay phiên nhau đứøng trên bục đánh nhịp cho hàng ngàn thanh niên học sinh Miền Nam đồng thanh hát. Đáp đúng nguyện vọng dân tộc từ lâu muốn vùng lên phá tan xích xiềng nô lệ của thực dân Pháp nên toàn dân hưởng ứng. Trẻ cũng hát, già cũng hát, tất cả người Việt ba miền Bắc, Trung, Nam cùng hát bản „Tiếng Gọi Sinh Viên“ và các bài hùng ca Petrus Kư. Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, Phong trào „Thanh Niên Tiền Phong“ được thành lập ở Miền Nam lấy bản „Tiếng Gọi Sinh Viên“ làm Đoàn Ca. Tên bản nhạc được sửa lại là „Thanh Niên Hành Khúc“ hay „Tiếng Gọi Thanh Niên“. Bản nhạc „Tiếng Gọi Thanh Niên“ có mănh lực khích độâng mạnh mẽ thanh thiếu niên Miền Nam. Anh em mạnh bạo cầm tầm vong vạt nhọn chống Tây, Nhựt. Năm 1948, trong phiên họp lịch sử ở Hong Kong giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và một số thân hào nhân sĩ cùng đại diện các đoàn thể chánh trị tôn giáo Miền Nam, ông Nguyễn Tôn Hoàn đề nghị lấy bản „Tiếng Gọi Thanh Niên“ làm quốc thiều cho Quốc Gia Việt Nam. Hội nghị đồng ư và tên bản nhạc được đổi lại là „Tiếng Gọi Công Dân“ hay „Quốc Dân Hành Khúc“. Về lời 2 chữ Công Dân thay cho 2 chữ Thanh Niên. (Di Cảo III, Nguyễn Ngọc Huy). Có một lịch sử huy hoàng, bản „Tiếng Gọi Sinh Viên“ của các đàn anh Petrus Kư được toàn dân Miền Nam suy tôn làm biểu tượng quốc gia.
Một danh dự lịch sử to lớn cho tập thể Petrus Kư chúng ta !
Các hành khúc Petrus Kư, lời nhạc hùng tráng, vui tươi, có tính cách giáo dục tuổi trẻ, kêu gọi thanh thiếu niên cùng nhau vươn lên, toàn dân Việt Nam đoàn kết, nêu cao tinh thần quật cường yêu nước, yêu đồng bào, hănh diện là người Việt Nam, phát huy cao độ sức sống dân tộc, được Nha Thanh Niên Học Đường thuộc Bộ Giáo Dục và Thanh Niên chọn làm bài hát căn bản cho thanh thiếu niên Miền Nam cho đến 1975. Mỗi năm, vào dịp lễ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, các bài „Hội Nghị Diên Hồng“, „Bạch Đằng Giang“, cũng như vào dịp lễ B́nh Định Vương Lê Lợi bản nhạc „Ải Chi Lăng“ được tŕnh bày trên truyền thanh truyền h́nh. Các tài liệu văn học lịch sử của các nhân vật có thẩm quyền hùng hồn chứng minh các hùng ca Petrus Kư đă xuất hiện rất lâu trước thời kỳ Cộng Sản. Các bản nhạc dấn thân yêu nước của học sinh Petrus Kư nhắc lại quá khứ oai hùng của dân Việt Nam nhiều lần đánh bại quân xâm lược Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân ta, người Việt từng tiến sang xâm lăng Trung Hoa vào đời Nhà Lư. Các Hùng ca Petrus Kư giáo dục thanh thiếu niên yêu nước, hăng hái lănh trách nhiệm với quốc gia dân tộc, hănh diện là người Việt Nam. Các bài hát trẻ nầy có khả năng tạo một phong trào thanh thiếu niên mới lành mạnh, hiên ngang kêu gọi nhau „kết đoàn tiến lên đường sáng“ (Thiếu Sinh Hành Khúc), mạnh mẽ kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết cùng nhau lo cho đất nước tiến bộ. Người Việt Nam không thể phủ nhận vai tṛ quan trọng hàng đầu của các hành khúc Petrus Kư nâng cao tinh thần bất khuất, khích lệ thanh niên hăng hái lên đường làm nghĩa vụ quốc gia trong thời gian ngắn đánh đuổi Tây ra khỏi nước giành dộc lập. Miền Nam nhanh chóng kiến thiết quốc gia, thanh thiếu niên Việt Nam chững chạc hiên ngang quắc mắt nh́n thẳng sang các nước láng giềng. Đến nay vẫn chưa có hành khúc nào thay thế được các hành khúc thanh niên của tập thể Petrus Kư. Tiếng nói của Tập Thể Petrus Kư phải được tuổi trẻ Việt Nam lặp lại măi măi để nhập vào xương tủy!
|
|
|
|
||