NHỮNG MẢNH
ĐỜI DANG DỞ
Nguyễn Ngọc Minh
Sách
đã xuất bản năm 2004, bởi THẮNG MÕ NAM CALIFORNIA ấn hành.
Tác phẩm gồm những bài viết của
một người lính Thủy Quân Lục Chiến về những mảnh đời rất thật của
chính tác giả và đồng đội cũng như số phận nghiệt ngã mà những người
lính VNCH phải gánh chịu theo mệnh nước nổi trôi...
Những bài viết rất thật đến độ có thể làm khó chịu một vài người nhưng
chắc chắn những người đã từng cầm súng bảo vệ mảnh đất miền Nam thân
yêu trước đây sẽ tìm thấy bàng bạc hình ảnh của chính mình trong đó.
Đôi hàng về người viết:
Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1951 tại Saigon. Học trường tiểu học Trương
Minh Ký, sau đổi thành Nguyễn Thái Học, trung học tại trường Nguyễn
Trải, sau đó là Đại học Khoa học Saigon.
Gia nhập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến năm 1972, trấn đống tuyến đầu
Quảng Trị, chiến đấu đến giờ phút cuối cùng tại bãi biển Thuận An - Đà
Nẵng cuối tháng 3/75. Cải tạo 6 năm từ Trung ra Bắc. Vượt biên đường
bộ 2 tháng xuyên qua Kampuchia đến Thái Lan 6/81. Định cư tại San
Fernando Valley - Los Angeles từ 7/83. Hiện là chủ nhân cơ sở
"Professional #1 Auto Repair" ở Canoga Park, California.
TRƯỜNG PHƯỚC - LA VANG - NHƯ LỆ
Thánh
địa La Vang với cây đa và đoạn đường thánh giá diễn tả ngày Chúa Giê-Su
chịu khổ nạn, đã có một thời hưng thịnh, vì đã từng là một địa điểm
hành hương của các tín đồ Thiên Chúa Giáo từ cuối thập niên 50's đến
đầu thập niên 70's, giờ đây chỉ còn là một di tích hoang tàn, khiến
người ghé qua không tránh khỏi bùi ngùi, cảm xúc...
Giữa tháng 6/73 từ Triệu Phong, Chợ Sãi và sông Vĩnh Định, đơn vị tôi
được di chuyển đến trung tâm huấn luyện Đống Đa để được (hấp) theo một
khóa học bổ túc khoảng 2 tuần lễ, cùng lúc với đơn vị bạn là TĐ 11
Nhảy Dù.
Trở lại quân trường là điều mà các người lính không ưa thích mấy,
nhưng lại là một điều hữu ích cho các đơn vị. Chúng tôi được học ôn
lại những căn bản trong kỹ thuật tác chiến, được thực tập nhị thức
hành quân Thiết giáp Bộ binh, thực tập xin Không yểm, Pháo yểm và Hải
yểm.
Thời gian này thật cần thiết để các sĩ quan trong đơn vị quen biết
nhau qua các bài học tham mưu, tâm lý chiến và tình báo.
Ngày mãn khóa chúng tôi có một cuộc hành quân gần như thật, đó là cuộc
hành quân tùng thiết với chiến xa, pháo binh và phản lực cơ yểm trợ,
sử dụng toàn bom và đạn thật...
Sau khi rời trung tâm huấn luyện Đống Đa, tiểu đoàn 7 di chuyển đến
làng TQLC. Làng này nằm ở phía Tây Bắc cầu Bến Đá khoảng 2 cây số ,
trong khu vực thôn Diên Sanh, xã Hải Trường, trên lộ trình từ quốc lộ
1 đến núi Trường Phước.
Một tuần sau chúng tôi vào thay thế tuyến cho TĐ 2 trong khu vực
Trường Phước.
Các trung đội đóng quân biệt lập, dọc theo lộ trình, trung đội này
cách trung đội kia khoảng hơn 1 cây số. Trung đội 3 đóng trên một ngọn
đồi ở phía Tây của đại đội cách khoảng 200 mét và trung đội 4 phòng
thủ chu vi đại đội.
Chúng tôi phải tham dự một cuộc bầu cử bán phần Thượng Nghị Viện. Tôi
nhớ mãi vì được nhiệm vụ phải nói khéo để các người lính bầu cho các
liên danh thân chính.
Trong lúc tập họp để nhắc nhở trung đội 3 về 2 liên danh thân chính mà
tôi được chỉ thị bầu phiếu cho, khi tôi đang cố lựa lời nói khéo cho
các liên danh này thì Trung sĩ Dần - Tiểu đội trưởng tiểu đội 1 lên
tiếng:
- Thưa Thiếu úy, tôi có ý kiến.
- Vâng, anh Dần cho biết ý kiến.
Trung sĩ Dần đứng dậy, quay nhìn các anh em trung đội 3 và nói:
- Theo Thiếu úy thì anh em nên bầu cho 2 liên danh này, còn liên danh
thứ 3 thì tùy ý anh em, anh em đồng ý không?
Tất cả các người lính thuộc trung đội 3 trả lời:
- Đồng ý!
Thế là chẳng còn gì để nói thêm nữa, tôi cho anh em tan hàng. Sau đó
huynh trưởng Nguyễn Lai hỏi tôi:
- Ông nói chuyện gì mà nhanh quá vậy Minh?
- Anh em đồng ý với những gì tôi đề nghị rồi huynh trưởng, làm sớm
nghỉ sớm mà.
Một buổi đang nằm hút thuốc sau bữa cơm chiều, Binh I Tân - Hiệu thính
viên trung đội 3 mà tôi vừa chọn khi tiểu đoàn hấp ở trung tâm huấn
luyện Đống Đa, đến gặp tôi với một bức thư trên tay nhờ tôi trả lời
giùm.
Lá thơ bắt đầu;
"Ông Tân!
Đọc thư ông tôi liên tưởng đến một gương mặt thật vô duyên, với nụ
cười để lộ ra hai hàm răng mất trật tự..."
Tôi ngó vào mặt Tân và hỏi:
- Mày trả lời thư cô ta mấy lần rồi?
- Chỉ có một lần thôi Thiếu úy.
- Có phải mày gọi cô ấy là "Bà" không?
- Ông thấy đó Thiếu úy, trong thư bà ấy gọi tôi bằng Ông.
- Mày đúng thiệt là vô duyên, chẳng lẽ người con gái viết thư cho
người con trai chưa quen lần đầu tiên mà lại gọi là "Anh" ngọt xớt à!
Nhìn vào bì thư tôi thấy địa chỉ cô ở quận 3 - Saigon. Tên cô là Hạ Vũ,
có lẽ đó là bút hiệu thì đúng hơn.
Tôi viết thảo cho Tân một bức thư.
"Hạ Vũ!
Nhận được thư Hạ Vũ tôi rất vui, càng đọc càng có cảm tình với Hạ Vũ
vì Hạ Vũ là một người thành thật. Những ước mơ của Hạ Vũ là những ước
mơ của tuổi mới lớn, là những điều mà tôi đã trải qua nhiều năm trước
khi còn ngồi trên ghế nhà trường...
Trước khi dừng bút, tôi xin vui vẻ nhận Hạ Vũ là cô em gái hậu phương.
Hy vọng rằng trong một ngày rất gần đây sẽ có dịp gặp em tại Saigon để
hàn huyên, tâm sự và được chiều chuộng cô em nhí nhảnh, dễ thương.
Chúc em một giấc ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp.
Anh
Nguyễn Văn Tân"
Hai kỳ tiếp tế (10 ngày sau) thư hồi âm từ cô bé Hạ Vũ được bắt đầu
bằng hai chữ “Anh Tân”, và sau đó họ hẹn gặp nhau đi dạo phố Saigon
khi tiểu đoàn về hậu cứ.
Đầu tháng 7, thằng Tuấn - Trung đội trưởng trung đội 2 đi phép, tôi
phải lên thay thế nó vì trung đội 2 nằm xa nhất trên tuyến đường, mất
30 phút đi bộ từ đại đội đến trung đội 2. Thời gian này Bửu trở lại
đại đội sau khi diễn hành ngày Quân Lực 19/6 để chờ đợi được chuyển
qua đại đội 1.
Mùa hè, những đồi sim thấp trong khu Trường Phước đầy những hoa sim
tím, những quả sim ăn vào tím cả lưỡi và ngọt lịm. Vừa đi vừa hái sim
dọc đường, vừa ca bài hát "Những Đồi Hoa Sim" của Dzũng Chinh mà quên
cả đường dài.
Từ trung đội 2 theo con đường đi tiếp thì sẽ tới một dòng suối mà
chúng tôi tắm giặt và lấy nước nấu ăn. Một hôm các anh lính cho biết
có gặp các anh bộ đội miền Bắc xuống lấy nước, nhưng vì đang trong
thời kỳ ngưng chiến nên cả hai bên chỉ nhìn nhau. Những lần sau khi
xuống suối họ đi hai người, một người mang theo súng. Tôi quyết định
cho trung đội đi lấy nước ở một điểm khác, chỉ thị các người lính kiểm
soát kỹ lưỡng và gài lựu đạn đoạn đường này để đề phòng Bắc quân có
thể vi phạm và xâm nhập tấn công.
Cuối tháng 7 TĐ về Saigon. Sau hơn 1 tháng trời dưỡng quân, đến đầu
tháng 9 tiểu đoàn 7 TQLC trở lại hành quân. Trong lúc ở Saigon tôi rủ
anh Huyền và Mẫn ghé thăm gia đình một người quen ở Thủ Đức. Bác là
Giáo sư Pháp Văn tại trường Pétrus Ký đã về hưu, nghiên cứu tử vi và
tướng pháp, có một người con trai là sĩ quan pháo binh TQLC đã hy sinh
trong trận tái chiếm cổ thành.
Trong khi chờ chú em trai vào thông báo cho bác biết có chúng tôi đến
thăm, thằng Mẫn tò mò mở một quyển tập để trên bàn ngồi đọc. Đúng ngay
cái đoạn bàn về tướng số một người có hình dạng giống như nó "Người
cao, chân dài, tay ngắn là tướng đoản mệnh...". Nó chỉ cho tôi đọc
đoạn này, trên gương mặt nở một nụ cười buồn. Trang tiếp theo bàn về
tướng của một người có gương mặt dài như anh Huyền, thằng Mẫn vừa đọc
vừa cười nắc nẻ.
Không ngờ đó là những điềm ứng trước, cả hai đã hy sinh sau đó không
lâu vì những tướng đoản mệnh.
Từ Saigon, chúng tôi ra hành quân và trở lại làng TQLC. Đầu tháng
10/73 tiểu đoàn 7 đến La Vang thay tuyến cho TĐ 8 TQLC. Bộ chỉ huy
tiểu đoàn đóng tại đồi dương, gần ngã ba Long Hưng, nơi đã là tuyến
xuất phát của TQLC khi tái chiếm Quảng Trị và Cổ Thành năm trước.
Di chuyển một hàng dọc từ điểm đổ quân ở cánh B băng qua hai ngọn đồi
thấp, vài dòng suối mùa, chúng tôi đến bờ một con suối khá rộng nhưng
cạn nước. Bước trên những hòn đá mà các đơn vị trước đã đặt trên lòng
suối theo từng bước đi để khỏi bị ướt giày, chúng tôi đặt chân đến ban
chỉ huy đại đội.
Trung đội 4 của Hùng (thay thế cho Mẫn đi học khóa “rừng núi sình lầy”
chưa về) nằm dọc theo bờ suối giữ an ninh và phòng thủ khu vực đại đội.
Tiếp theo là trung đội 3 và trung đội 2 dàn tuyến đối mặt với Bắc quân.
Từ trung đội 2 băng qua một cái lạch nhỏ và một khoảng đầm lầy trên
những cây cột nhà lót đường thì tới cái tiền đồn được phòng thủ chu vi
của trung đội 1. Nhìn địa thế hiểm ác của cái tiền đồn này, ai cũng
biết muốn giữ được chắc các đơn vị bạn trước kia đã phải tốn biết bao
nhiêu xương máu. Trung đội phòng thủ một khu vực gần như là một vòng
tròn, với đường chu vi khoảng chừng 100 mét.
Ngôi làng nơi đại đội đóng quân có tên là Như Lệ, cái tên nghe quá
buồn. Những ngày mưa, đường trơn trợt, ướt át, trời bắt đầu trở lạnh
nên chẳng ai muốn ra ngoài. Nằm nghe mưa rơi trên những tấm tôn thủng
rả rích, từng giọt nước tí tách, rầu thúi ruột và nhớ nhà.
Ngày đặt chân đến Như Lệ quang cảnh cũng tương tự như Chợ Sãi - Triệu
Phong. Các anh lính miền Bắc đứng bên hàng rào hỏi thăm và mời chúng
tôi sang một cái chòi mà họ gọi là "Nhà Hòa Hợp", cũng vẫn cái bảng
treo trước cửa với hàng chữ "Không có gì... cả".
Anh Lai, anh Huyền và tôi bước vào căn nhà. Sau khi chào và hỏi thăm
nhau, chúng tôi cả hai bên cùng ngồi vào bàn và nói chuyện xã giao. Có
một điều không biết là tiện hay bất tiện, tốt hay không tốt vì những
phù hiệu trên áo đã cho họ biết chúng tôi thuộc tiểu đoàn nào rồi, mặc
dù chúng tôi đã mặc áo của các người lính không có cấp bậc. Riêng các
anh lính Bắc quân thì không thấy được gì trên quân phục của họ.
Họ mời chúng tôi nước trà, thuốc lá. Thuốc lá hiệu Tam Đảo, Điện Biên
nội địa và Hoa Hồng của Trung Quốc.
Anh Lai đốt một điếu thuốc, kéo một hơi dài, tủm tỉm cười lên tiếng:
- Thơm mùi nhang quá!
Chúng tôi cười trong khi các anh bộ đội miền Bắc không hiểu gì cả.
Nói chuyện vớ vẩn, bâng quơ vì chẳng có gì để nói lâu, chúng tôi kiếu
từ ra về thì các anh bộ đội miền Bắc lại theo phép lịch sự "như người
Hà Nội" giữ khách và mời khéo:
- Các anh về chóng thế, khi nào rỗi mời các anh lại sang chơi nhé.
Từ tháng Mười kéo dài qua Tết là mùa mưa dầm, mưa lê thê. Mưa kiểu này
mà nằm nhai gạo sấy rang (thay cốm) tẩm nước đường thì hết nói. Trời
mưa chẳng có gì làm thì lại quanh quẩn Domino, cờ tướng và mong đến kỳ
lãnh lương.
Ngày phát lương là ngày chúng tôi tha hồ ăn uống. Ban quân lương đến
cánh B phát lương cho các đại đội và có câu lạc bộ đến bán mì gói,
thuốc lá, bia và các nhu yếu phẩm cho lính.
Từ cánh B đi về phía Nam một đoạn đường ngắn 10 phút là tới khu nhà
thờ La Vang. Vào cuối thập niên 50's đến đầu thập niên 70's, nơi đây
đã từng là một vùng thịnh trị, rất nhiều tín đồ đạo Thiên Chúa từ khắp
miền Nam đến hành hương.
Tôi còn nhớ những năm cuối thập niên 50's, vé số Tombola được bán khắp
nơi giá 2 đồng bạc thời đó để lấy tiền xây dựng khu thánh địa La Vang,
và đường xe hỏa đồng thời được phát triển để phục vụ khách đến thăm
vùng này.
Trước mặt nhà thờ là một đoạn đường được gọi tên là “đoạn đường Thánh
Giá”, hai bên đường là những bức tượng diễn tả Chúa Giê-Su trong ngày
chịu tội, đã gãy đổ tan nát không còn nguyên vẹn. Cây đa đúc bằng bê
tông cốt sắt, nghe nói là được xây ngay tại chỗ cây đa thật trước kia,
nơi người ta tin rằng mẹ Maria đã hiện lên, nay chỉ còn trụi lủi thân
cây mà thôi. Các cành được đúc bằng bê tông cốt sắt đã gãy gục nát tan
vì bom đạn. Tượng đức mẹ Maria cũng chẳng còn nguyên vẹn, “Ôi! Sức tàn
phá và hủy diệt của con người thật là ghê gớm!".
Ngôi thánh đường to lớn bị hủy hoại khắp cả bốn phía. Phần bên phải
của tòa giảng hoàn toàn sụp đổ từ nóc nhà thờ xuống tới mặt đất. Các
ngôi nhà của tu sĩ và giáo dân giúp việc hoàn toàn bị san bằng. Những
hàng cây khuynh diệp trồng quanh khu vực nhà thờ chẳng cây nào không
mang thẹo thọ vì đạn bom.
Các bạn và tôi đã thay phiên nhau chụp một số hình ảnh ở khu vực này,
rất tiếc là sau ngày miền Nam sụp đổ, gia đình tôi đã không còn giữ
lại được tấm ảnh nào.
Tôi hình dung ra quang cảnh tấp nập trong những ngày lễ tôn giáo trước
đây, hàng ngàn người đến hành hương và tham dự các khóa lễ. Bây giờ
nơi đây hoàn toàn giá lạnh, hoang vắng, không có bóng dáng một tín đồ
nào. Nhìn qua Cường đang làm dấu “Amen” mà không tránh khỏi những bùi
ngùi, cảm xúc.
Chúng tôi rời khu thánh địa La Vang, thấy thấm thía nỗi thảm thương cơ
cực của người dân Quảng Trị. Đến bao giờ và phải hao tốn bao nhiêu máu
xương, của cải để xây dựng lại những nơi này?
Đầu tháng 11, đại đội tiếp nhận thêm các người lính mới bổ sung cho
đơn vị, một số cựu tù binh, quân phạm, và một sĩ quan - Phước mập, đi
bay với thằng Tuấn. Trung đội 3 nhận thêm các người lính mới, trong đó
có Trung sĩ I Nhẫn - cựu tù binh, Hạ sĩ I Hào - Quân phạm v.v..
Tháng 12/73 sư đoàn tổ chức các khóa học bổ túc trung đội trưởng cho
các sĩ quan. Tôi được chỉ định đi học đợt đầu tiên với 3 người bạn
khác là Hòa ở đại đội 1, Toàn ở đại đội 2 và Thành ở đại đội 4. Chúng
tôi được đưa đến Bộ chỉ huy lữ đoàn 258 đóng tại Hội Yên để tham dự
khóa học cùng với các sĩ quan trung đội trưởng ở 8 tiểu đoàn bạn. Khóa
học kéo dài trong 2 tuần, thành phần huấn luyện viên là các chiến sĩ
tài ba ưu tú từ các tiểu đoàn TQLC và các đơn vị yểm trợ như Pháo Binh,
Công Binh, Thiết Giáp, Không Quân và Hải Quân...
Đại tá Ngô Văn Định - Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 258 khai mạc khóa học
trong một nghi lễ đơn sơ nhưng đầy thân tình. Ông mong mỏi khóa học
này sẽ giúp chúng tôi những điều cần thiết tối thiểu để khi trở lại
đơn vị; với các kinh nghiệm thực tiễn quý báu từ các đàn anh, chúng
tôi sẽ áp dụng các sáng kiến thích nghi để tiết kiệm xương máu đồng
đội, phát huy khả năng của đơn vị và hoàn thành nhiệm vụ được giao phó
tốt đẹp.
Chúng tôi lại được nghe thuyết trình về các trận đánh tiêu biểu của
đơn vị TQLC, về thế công, thế thủ, cách thức điều binh từ chính các sĩ
quan chỉ huy tham dự trực tiếp các trận đánh đó như Thiếu tá Nguyễn
Văn Sử, Trung úy Kiên Pek v.v..
Được sự đóng góp thêm của Đại tá Ngô Văn Định, Trung tá Đỗ Hữu Tùng,
được trình bày các kinh nghiệm bản thân của mình để lớp học bàn thảo,
đưa ra các phương thức để giải quyết trong các tình huống xấu. Chúng
tôi đã được học biết bao nhiêu kinh nghiệm hay và quý báu để áp dụng
sau đó trong đời lính...
Ngoài ra chúng tôi cũng được học thêm về công binh, pháo binh, thiết
giáp và chống thiết giáp, liên lạc xin không yểm, hải yểm v.v.. Thời
gian quá ngắn cho một khóa học nhưng đã đem lại cho chúng tôi nhiều
kinh nghiệm hữu ích không ngờ. Nếu không được tham dự các khóa học bổ
túc như thế này, có lẽ việc điều quân phản ứng của chúng tôi sẽ kém
nhạy bén. Chúng tôi học được cách nhìn sự việc dưới những góc cạnh, lý
lẽ khác nhau. Học được cách ước định tình huống trước khi nó xảy ra,
điều này làm cho chúng tôi tăng thêm sự tự tin vào khả năng của đơn vị
khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ.
Cuối tuần lễ đầu vào ngày Chủ Nhật, một số các sĩ quan chúng tôi đi
thăm khu nhà thờ hai nóc Thanh Hương - Điền Môn, nơi mà tôi sẽ trở lại
sau này trong cuộc lui binh cuối cùng.
Chấm dứt tuần thứ nhì là lễ mãn khóa dưới sự chủ tọa của Thiếu tướng
Bùi Thế Lân - Tư lệnh sư đoàn TQLC. Ông nhắc nhở chúng tôi hãy ứng
dụng các điều đã học một cách thích hợp để phát triển khả năng sẵn có
của đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.
Xe của tiểu đoàn đã chờ sẵn và đón chúng tôi trở lại đơn vị.
Tết năm đó đại đội thật vui, nhất là trung đội 3 với sự có mặt của các
chị, vợ anh Xê - Trung đội phó, vợ anh Hào - tiểu đội đại liên. Chúng
tôi có một cái tết thịnh soạn với các món ăn thượng hảo hạng từ những
bàn tay khéo léo của các chị như Vịt tiềm thuốc Bắc của chị Hào, các
món bánh lá, bánh đập... và nồi bún bò cay tóe khói của chị Xê, gốc
người Huế, vừa ăn vừa hít hà, nước mắt nước mũi, mồ hôi chảy ra nhễ
nhại vì cái gì ăn vô cũng cay, cũng nóng.
Ngày đầu năm chúng tôi xông đất các anh Bắc quân ở nhà "Hòa Hợp".
Chúng tôi chúc Tết nhau. Họ mời chúng tôi thuốc lá, hạt dưa, và các
loại kẹo bột, kẹo đậu phộng... (không ngờ rằng nhiều năm sau đó, mỗi
lần Tết đến chúng tôi lại ngồi mong chờ những thứ này trong tù.)
Chúng tôi mời các anh ấy các thứ mứt, kẹo, bánh trái của miền Nam. Họ
cứ xuýt xoa mãi.
- Hàng ngoại đấy à các anh.
Thoạt đầu tôi không hiểu ý các anh ấy, sau mới biết họ tưởng là đồ
nhập cảng. Những cái kẹo mứt mãng cầu gói trong các loại giấy bóng
kiếng đủ màu, hoặc những miếng mứt thập cẩm quá đẹp làm họ ngạc nhiên.
Nhưng họ chỉ dám thử một cái. Không biết vì thấy đẹp không dám ăn uổng
quá hay vì sợ có thuốc độc bên trong ?
- Do các chị vợ của anh em chúng tôi làm đó.
- Đẹp thế nhỉ!
- Khéo thế nhỉ!
Nghe những lời khen chân thành, mộc mạc của các anh lính Bắc quân lúc
đó, tôi không nghĩ là họ khen thật, cho đến khi vào tù vì thua cuộc
chiến tôi mới biết rõ ràng là họ thành thật. Các người tù cải tạo
thường bông đùa, chọc ghẹo họ luôn bằng cách khen nhưng thật tình là
chửi xéo.
Rồi những ngày Tết cũng trôi qua, các thân nhân của những người lính
cũng lần lượt ra về hết, và sinh hoạt của đơn vị cũng trở lại bình
thường.
Sau ngày Tết trung đội 3 thay thế trung đội 1 ở vị trí tiền đồn. Bàn
giao với anh Huyền xong, tôi đi xem lại vị trí đóng quân và cho vét
lại giao thông hào ở các đoạn bị sụp lở vì nước mưa.
Trung đội 3 phòng thủ chu vi trong một hình gần như tròn với đường
kính khoảng hơn 30 mét. Hướng Tây và Tây Nam giáp mặt Bắc quân, hướng
Đông của tiền đồn là một dòng suối chảy về phía đại đội, hướng Bắc là
một con lạch nhỏ nối tiếp với một bãi lầy. Tiền đồn được nối liền với
đại đội bằng một chiếc cầu khỉ bắc qua con lạch và những thân cây, gỗ
tạp được dùng để lót qua bãi lầy. Vị trí tiền đồn này rất nguy hiểm vì
gần như là "bốn bề thọ địch".
Đặc công cộng sản có lối đánh là bò theo các đường mòn và các khe xâm
nhập mà cái tiền đồn này hai mặt giáp địch, còn hai mặt kia lại là
suối, lạch và đất thấp lầy lội.
Ngay sau khi bàn giao tuyến, tôi đã chỉ thị cho các tiểu đội vét lại
giao thông hào và sửa chữa khu vực phòng thủ.
Các anh Bắc quân kêu réo ầm ĩ lên:
- Này các anh làm gì thế, đào gì thế?
- Mưa lở đất, chúng tôi đắp lại thôi.
- Các anh làm thế là vi phạm đấy.
- Chúng tôi chẳng làm gì mà vi phạm.
Vừa làm vừa cãi nhau, rồi thì chúng tôi cũng sửa xong lại tuyến phòng
thủ chiều hôm đó.
Hạ sĩ Tâm, trước kia là Hiệu thính viên truyền tin, sau ra tiểu đội
của Trung sĩ Phấn, trong lúc vét lại giao thông hào, thấy lộ ra một bộ
xương người lính Bắc quân và trang phục còn sót lại. Anh tinh nghịch
đặt chiếc xương sọ lên trên bờ giao thông hào và đôi dép râu gác lên
trên đầu chiếc xương sọ, miệng thì nói "Sinh Bắc Tử Nam". Các anh bộ
đội miền Bắc la lên phản đối.
Nghe có chuyện, tôi bước đến nơi và nói với Tâm:
- Dẹp đi Tâm, người ta đã chết rồi, đừng làm vậy!
Sau đó tôi không biết Tân đã dấu cái xương sọ và đôi dép râu đi đâu.
Mờ tối hôm đó, khi tôi đang ngồi đọc sách ở dưới hầm thì nghe như có
tiếng người chạy huỳnh huỵch bên ngoài. Tiếng Binh I Chánh - Hiệu
thính viên, đứng ngay cửa hầm gọi tôi:
- Thiếu úy, Thằng Tâm có chuyện, nó bị ma đánh.
Leo lên khỏi hầm, tôi chạy đến chỗ tiểu đội của Trung sĩ Phấn thì thấy
các người lính đang vây quanh Tâm ở một góc giao thông hào. Tân chúi
đầu vào góc Tuyến không dám ngẩng lên.
- Anh Phấn, anh cho trói nó lại.
Người Tâm bê bết đất cát, đôi mắt lạc thần. Anh không dám chống cự khi
hai người lính đến trói anh lại.
Tôi liên lạc báo cáo tình hình và xin giải giao Tâm vào đại đội vì sợ
nó lên cơn nửa đêm thì nguy hiểm cho tính mạng nó. Hai anh lính giải
giao Tâm vào đại đội trở về kể lại.
"Khi gặp Trung sĩ I Trần Ngâm thằng Tâm không dám nhìn mặt. Nó lấm la,
lấm lét. Anh Ngâm dùng roi dâu quất lên người Tâm, nó la hét và lăn
lộn trên mặt đất..."
Sáng sớm hôm sau Tâm được đưa về tiểu đoàn và sau đó được đưa ra quân
y viện Nguyễn Tri Phương tại Huế để điều trị. Mấy tháng sau bình phục
Tâm trở lại đơn vị thì tôi đã ra toán CAP ở Hải Trường.
Một buổi tối đang ngồi đọc sách dưới hầm, cảm thấy thèm một điếu
thuốc, tôi bước ra khỏi hầm đi dạo một vòng, nói chuyện với các người
lính, quên tắt ngọn đèn cầy đốt để đọc sách trong hầm.
Tiếng Binh I Chánh la thất thanh:
- Lửa cháy trong hầm Thiếu úy.
Tôi chạy trở lại thì thấy lửa cháy sáng trong hầm.
- Lấy nước dập tắt đi.
Các người lính chuyền nước vào dập tắt ngọn lửa. Tàn lửa cháy loang lổ
cái ba-lô và làm hư hại các đồ đạc bên trong, may là chưa bắt qua phát
nổ đạn và lựu đạn. Sức nóng của lửa làm hư hại cái máy chụp hình
OLYMPUS PEN DEMI của tôi.
Tối hôm đó tôi ngủ lạnh để trả cái lỗi bất cẩn của mình. Sáng hôm sau
phải giặt giũ tất cả quân trang, quân dụng còn xài được và vất đi các
thứ đã bị cháy hư hại. Kiểm soát lại thì thấy thiệt hại khoảng 50%.
Hai ngày sau, một công điện bất ngờ từ tiểu đoàn chuyển đến. Tôi được
chỉ thị ra thay thế Trung úy Lê Văn Minh thuộc đại đội 4 trong chức vụ
trưởng toán CAP (huấn luyện) tiểu đoàn 7 TQLC ở xã Hải Trường.
Xếp tất cả các đồ đạc còn lại vào chiếc ba-lô cháy loang lổ của mình.
Thằng Mẫn đang ngồi chơi với tôi lên tiếng:
- Lấy cái ba-lô của tao đi Minh, mày vác cái ba-lô này ra làng, họ
tưởng mày "ăn xin" đó.
Tôi bật ra cười lớn, thầm nghĩ "Đúng là cái số ăn mày!". Chúng tôi
trao đổi cho nhau một số đồ đạc, và sáng hôm sau "Ba-lô lên vai", tôi
rời đại đội lên trình diện tiểu đoàn để đi nhận nhiệm vụ mới.
Đứng trên dốc khoảng lưng chừng đồi, nhìn xuống làng Như Lệ, nghe
tiếng các dòng suối mùa đang chảy róc rách đâu đây. Khu vực đại đội 3
đóng quân nằm yên lặng dưới chân đồi, phía bên kia dòng suối. Đưa tầm
mắt trải dài tới các trung đội bạn 1, 2, dừng lại nơi cái tiền đồn lẻ
loi đơn độc của trung đội 3, nhớ lại các kỷ niệm tràn đầy sau hơn một
năm tôi sống cùng đơn vị.
Một hình ảnh toàn cảnh hiện ra trước mắt làm tôi chợt thấy bâng
khuâng. Trước kia ở góc độ này, nếu nhìn xuống làng Như Lệ là một hình
ảnh thật thanh bình, với những dòng suối chảy róc rách, những ngôi nhà
nhỏ xen kẽ trong một vùng đồi núi thấp chung quanh. Các thửa ruộng nhỏ
xếp thành hình những bậc thang để nhận nước từ những suối nguồn.
Mỗi sáng Chủ Nhật tiếng chuông nhà thờ La Vang đánh thức người dân, và
rồi từng đoàn người với các chiếc áo dài khăn đóng, những chiếc khăn
mỏ quạ, cùng với các em nhỏ trai gái trong đồng phục đoàn Thiếu Nhi
Thánh Thể lũ lượt từ Như Lệ cũng như những ngôi làng khác quanh đây,
vượt qua các ngọn đồi để kéo về thánh đường La Vang đã một thời hưng
thịnh.
Hình ảnh đó không còn nữa. Giờ đây là các hầm hố, địa đạo, giao thông
hào, chẳng còn một ngôi nhà nào còn sót lại trong làng Như Lệ.
Ôi! Sao tang thương dâu bể, vật đổi sao dời. Tôi quay lưng bước đi,
lòng tự hỏi:
“Trong những năm tháng tới đây, quê hương tôi sẽ được nhìn thấy La
Vang và các khu làng quanh đây hồi sinh, hay sẽ còn phải tiếp nhận
thêm các tai ương trong một cuộc chiến đã hơn 20 năm giữa hai miền Nam
Bắc, Quốc Cộng, giữa hai chính thể !?”
Chúng tôi cứ phải nghe, đôi khi phải tuyên truyền thêm về những sự
tích anh hùng trong chiến tranh, cứ phải nhìn những cảnh máu đổ, thịt
rơi. Trên báo chí cả hai miền Nam Bắc thì đua nhau ca ngợi các chiến
thắng lẫy lừng!
"Vậy chứ ai là người thua cuộc khi cả hai bên đều thắng? Chắc là người
dân nghèo nơi quê hương tôi, một cổ hai tròng..."
Tôi thở dài, lắc đầu, tiếp tục leo nốt ngọn đồi trước mặt. Xa xa về
hướng Đông-Bắc là đồi dương, nơi bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân, mường
tượng tới những hình ảnh nơi tôi sẽ đến làm công tác dân sự vụ, một
nỗi vui buồn lẫn lộn trong lòng.
Biết nói gì đây với những người dân, những người lính địa phương?
Tôi bật cười, đá văng một hòn sỏi nhỏ dưới chân, miệng nói khẽ:
"Có gì mà phải lo, mọi sự rồi sẽ ổn thỏa".
NGUYỄN NGỌC MINH
Nguyễn Trãi B363
Tiểu đoàn 7 - TQLC
|