NHỮNG MẢNH
ĐỜI DANG DỞ
Nguyễn Ngọc Minh
Sách
đã xuất bản năm 2004, bởi THẮNG MÕ NAM CALIFORNIA ấn hành.
Tác phẩm gồm những bài viết của
một người lính Thủy Quân Lục Chiến về những mảnh đời rất thật của
chính tác giả và đồng đội cũng như số phận nghiệt ngã mà những người
lính VNCH phải gánh chịu theo mệnh nước nổi trôi...
Những bài viết rất thật đến độ có thể làm khó chịu một vài người nhưng
chắc chắn những người đã từng cầm súng bảo vệ mảnh đất miền Nam thân
yêu trước đây sẽ tìm thấy bàng bạc hình ảnh của chính mình trong đó.
Đôi hàng về người viết:
Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1951 tại Saigon. Học trường tiểu học Trương
Minh Ký, sau đổi thành Nguyễn Thái Học, trung học tại trường Nguyễn
Trải, sau đó là Đại học Khoa học Saigon.
Gia nhập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến năm 1972, trấn đống tuyến đầu
Quảng Trị, chiến đấu đến giờ phút cuối cùng tại bãi biển Thuận An - Đà
Nẵng cuối tháng 3/75. Cải tạo 6 năm từ Trung ra Bắc. Vượt biên đường
bộ 2 tháng xuyên qua Kampuchia đến Thái Lan 6/81. Định cư tại San
Fernando Valley - Los Angeles từ 7/83. Hiện là chủ nhân cơ sở
"Professional #1 Auto Repair" ở Canoga Park, California.
CẦU BẾN ĐÁ DIỆT TĂNG
Hơn
30 năm đã trôi qua những kỷ niệm rồi cũng nhạt nhòa nhưng làm sao tôi
quên được đoạn đường “Đại Lộ Kinh Hoàng” với những mất mát tổn thương
của đồng đội, những thảm cảnh đau lòng của người dân Quảng Trị, nơi
quê hương tôi bên kia bờ đại dương và những giây phút căng thẳng
nghiến răng bấm cò khẩu M-72 đang phát nóng trong lòng tay vì chờ đợi,
về phía chiếc T-54 đang trườn tới bờ bắc cầu Bến Đá...
Cuối tháng 4 năm 1972 khi sư đoàn 3 bộ binh rút bỏ thành phố Quảng Trị,
đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển từ hướng núi phía Tây, khoảng
động Ông Đô và Trường Phước, ra Quốc lộ 1 giữa ngã ba Hải Lăng và cầu
Bến Đá để tăng viện cho mặt trận Quảng Trị.
Trên đoạn tuyệt lộ này chúng tôi đã phải chứng kiến cảnh dân chúng
đang gánh gồng, bồng bế, dắt díu nhau chạy loạn. Đa số là người già,
đàn bà và trẻ con. Họ chen lấn và bám theo đủ mọi loại xe cộ, cơ giới
đang hối hả đổ xô về phương Nam, mặc cho đạn pháo Bắc quân đang rót
xuống đường, ngay vào dòng người di tản. Mỗi một viên đạn pháo nổ là
một lần thịt xương người văng tung tóe khắp nơi, xe cộ bốc cháy ngổn
ngang suốt một đoạn đường dài trên Quốc lộ 1, tiếng kêu la than khóc
vang trời!
Cả đoàn người hỗn loạn, họ không biết chạy về đâu...., đi về đâu...
ngoài cách đâm vào chỗ chết để mong sống sót, nơi những tràng đạn pháo
của Bắc quân đang chờ đợi nổ tung. Bắc quân đã cho các tiền sát viên
bám sát đoàn người và xe cộ di tản, điều chỉnh tọa độ cho pháo rớt
đúng trên đoàn người, để ngăn cản thường dân vô tội thoát ra khỏi vùng
lửa đạn.
Nhưng những tên tiền sát viên này đã bị các chiến sĩ Thủy Quân Lục
Chiến khám phá và bắt sống, nhờ thế mới chấm dứt được cuộc tàn sát
bằng đạn pháo của Bắc quân vào đoàn người di tản vô tội. Sau đó anh em
chúng tôi phải giúp đỡ, băng bó, chia sớt những bao gạo sấy, thịt hộp
và nước uống cho các cụ già, các bà mẹ có con nhỏ đang đói khát và
hoảng hốt vì vừa vượt qua khỏi được chặng đường tử thần mà họ tưởng
chừng là vô tận...
Xe chuyển quân đến, chúng tôi lần lượt lên xe để tiếp tục tiến ra
Quảng Trị, nhưng vừa chạy được một đoạn thì đoàn xe của chúng tôi phải
dừng lại. Hai đại đội 1 và 3 được lệnh xuống xe quay lại cầu Bến Đá,
tạm thời tăng phái cho tiểu đoàn 5 TQLC đang trấn giữ tại đây.
Lúc đó chúng tôi được biết là trong khi chờ xe để đi ra Quảng Trị,
cánh A bị trúng đạn pháo của Bắc quân. Thiếu tá Võ Trí Huệ - tiểu đoàn
trưởng, Đại úy Đinh Long Thành - Trưởng ban 3 và một số chiến sĩ thuộc
bộ chỉ huy tiểu đoàn bị thương vì mảnh pháo. Đại úy Nguyễn Văn Kim -
Tiểu đoàn phó xử lý thường vụ Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 TQLC tiếp
tục theo đoàn xe đưa cánh A ra Quảng Trị trước gồm đại đội 2, đại đội
4 và đại đội chỉ huy. Đại úy Tôn Thất Trân tạm thời xử lý thường vụ
cánh B gồm có đại đội 1 và đại đội 3.
Sáng ngày 2 tháng 5 năm 1972, cánh B tiểu đoàn 7 được lệnh xuất phát
từ cầu Bến Đá tiến ra Quảng Trị để sát nhập lại với cánh A. Đại đội 3
bên trái và đại đội 1 bên phải quốc lộ 1. Bắc quân từ những đồi cát ở
phía Tây dùng đại liên tác xạ vào đoàn quân của chúng tôi.
Vượt qua khỏi đoàn xe cháy ngày hôm qua trên Đại Lộ Kinh Hoàng khoảng
hơn 200 mét thì địa thế hoàn toàn trống trải, chúng tôi phải bám sát
các lùm cây, men theo các gò cát hai bên đường. Để bảo toàn lực lượng
và tránh bị tổn thất, cả hai đại đội vừa phải trải mỏng trên các đồi
cát vừa cẩn thận tiến lên. Nhận thấy địa thế trống trải hoàn toàn bất
lợi, Đại úy Tôn Thất Trân đã xin phép trở lại cầu Bến Đá để tránh
những hy sinh vô ích.
4 giờ chiều cùng ngày cánh B an toàn quay trở lại cầu Bến Đá sau những
nỗ lực không thành khi tiến về hướng Bắc để bắt tay với cánh A. Pháo
và súng nặng của Cộng quân ngăn cản chúng tôi thực hành ý định.
Cánh B tiểu đoàn 7 sau đó được lệnh rút quân về để tăng phái cho tiểu
đoàn 9 TQLC vừa đến đổi tuyến cho tiểu đoàn 5. Chúng tôi có trách
nhiệm trấn giữ phía Tây cầu Bến Đá từ Quốc lộ 1 kéo vào hướng núi và
trung đội 3 được chỉ định làm tiền đồn cho đại đội tại bờ Bắc cây cầu.
Khoảng 5 giờ chiều một toán công binh TQLC đến đào một số lỗ trên mặt
đường để đặt mìn chống chiến xa, nhưng chỉ chưa đầy một tiếng sau họ
quay trở lại và tháo đi tất cả. Tôi ngạc nhiên hỏi Thiếu úy Lai thì
được biết có tin là thiết giáp của đơn vị bạn sẽ rút về theo Quốc lộ 1
tối nay.
Lại thêm một buổi cơm chiều gạo sấy vì chúng tôi không dám nấu nướng,
sợ khói bay lên sẽ làm lộ địa điểm đóng quân khiến pháo binh địch dễ
tác xạ.
Sau khi kiểm điểm lại quân số , trung đội 3 chỉ còn lại 24 người. Đi
dọc theo phòng tuyến để chỉ định các vọng gác đêm, cứ hai người lính
một vọng gác, thay phiên nhau mỗi người gác 2 tiếng rồi đánh thức
người kia dậy đổi phiên. Suốt đêm chập chờn, mắt anh em chúng tôi ai
nấy cũng đỏ lừ và sâu hoắm vì thiếu ngủ. Lại thêm một đêm dài trôi qua
với những tiếng bom đạn vang vọng lại từ Quảng Trị, tôi ngả lưng một
chút cho tới khi chợt tỉnh giấc vì tiếng động cơ xe tăng từ phía Bắc
vọng xuống.
Đầu năm 72 tiểu đoàn 7 đang trấn giữ địa đầu giới tuyến từ Gio Linh
đến Cồn Tiên qua các căn cứ hỏa lực A1, A2... C1, C2... Đến những ngày
cuối trước Tết năm 72 tiểu đoàn được điều động về giữ an ninh và làm
lực lượng trừ bị cho Quân đoàn 1 tại Quảng Nam - Đà Nẵng, đóng quân
tại xã Non Nước - Điện Bàn, đơn vị được dưỡng quân và bổ sung thêm
quân số, lúc đó trung đội gần 40 người.
Ngày vui qua nhanh, chiều mùng 4 tết tiểu đoàn được lệnh chuyển quân
đêm đến căn cứ tiền phương Đông Hà - Quảng Trị và từ đó chúng tôi lội
bộ vào Cùa, Mai Lộc để tăng phái cho lữ đoàn 147 TQLC vì có dấu hiệu
Bắc quân đang tập trung lực lượng trong các khu vực này.
Đúng như dự liệu, đầu tháng 3 năm 72 Bắc quân ồ ạt dùng xe tăng, biển
người tràn qua vùng phi quân sự, tấn công các vị trí của sư đoàn 3 và
Địa Phương Quân tỉnh quảng Trị, cùng lúc chúng cũng đột kích vào các
lực lượng TQLC.
Tháng 4 năm 72, trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 3 bộ binh thất thủ sau một
thời gian dài bị Cộng quân vây hãm khiến hệ thống phòng thủ của sư
đoàn 3 hoàn toàn sụp đổ. Bắc quân tiến chiếm căn cứ Ái Tử - Quảng Trị
và cổ thành lọt vào vòng đạn pháo của Cộng quân.
Ngày 29 tháng 4 sư đoàn 3 bộ binh rút lui rời bỏ cổ thành Đinh Công
Tráng và tỉnh lỵ Quảng Trị. Không còn sư đoàn 3 đối đầu khiến áp lực
của Bắc quân dồn hết vào các lực lượng TQLC đang trấn thủ tại đây.
Chiến trận ngày càng thêm khốc liệt. Những ngày cuối tháng 4 dân chúng
Quảng Trị hoảng hốt vứt bỏ cả tài sản, cố thoát thân ra khỏi vùng lửa
đạn. Thường dân, xe cộ theo chân các đoàn cơ giới của sư đoàn 3 rút
lui về Nam, gây cảnh bế tắc và chết chóc thảm thương trên Đại Lộ Kinh
Hoàng khi Bắc quân cố dùng đạn pháo ngăn cản.
Đêm hôm đó đang chập chờn trong giấc ngủ mê mệt, tôi chợt tỉnh cơn ngủ
vật vờ, căng thẳng cả đêm qua vì tiếng động cơ rì rầm xa xa từ hướng
ngã ba Hải Lăng vọng xuống. Một người lính trẻ đang gác quay qua hỏi
tôi:
- Anh Lựu, anh dậy rồi à! Em nghe tiếng xe tăng, phải xe của mình
không?
- Không biết, để tao hỏi Thiếu úy Lai.
Nhìn vào chiếc đồng hồ dạ quang trên tay chưa đến 4 giờ sáng, tôi định
bước qua ban chỉ huy trung đội để thông báo cho Thiếu úy Nguyễn Lai
thì trông thấy ánh đèn pin thấp thoáng từ hướng đó, chắc anh cũng đã
dậy rồi, hầu như tất cả những người lính của trung đội 3 đều đã thức
giấc. Tôi mồi một điếu thuốc Capstan, kéo một hơi dài, cảm thấy ê ẩm
cả lồng ngực, suốt hai ngày qua quần thảo với Bắc quân trên Đại Lộ
Kinh Hoàng, hít toàn khói súng và khói đạn pháo của cả ta và địch,
buồng phổi của anh em chúng tôi chắc đang chứa đầy thán khí.
Dập tắt điếu thuốc ngon nhất trong ngày vì nó đã trở thành vô vị, tôi
đi kiểm soát từng vọng gác, nhắc nhở các chiến binh trung đội 3 cẩn
thận vì Bắc quân thường đột kích tấn công vào lúc trời rạng sáng,
thường giờ này là lúc mọi người dễ say ngủ hoặc ỷ y.
- Nè, cẩn thận nhé Mai! Tôi lên tiếng nhắc Binh nhất Nguyễn Hồng Mai
đang ngồi gác.
- Bộ xe tăng tụi nó hả anh Lựu?
- Có thể xe bên mình...
Khoảng 4 giờ 30 phút tiếng động cơ nghe rõ hơn, sinh nghi tôi chạy vội
qua để liên lạc với Thiếu úy Lai thì được biết anh đã thông báo cho
đại đội và nhận được lệnh cẩn thận vì có thể là thiết giáp của đơn vị
bạn đang rút về.
Trung đội 3 rải tuyến hàng ngang ở bờ Bắc cầu Bến Đá, từ phía Tây của
cầu đường nhựa kéo dài qua khỏi cầu sắt xe lửa theo hình cánh cung.
Chúng tôi sử dụng các hầm hố có sẵn của đơn vị Địa Phương Quân gác cầu
đã bỏ đi mấy ngày trước. Bên phía Đông Bắc của cầu Bến Đá, cách phía
Bắc cây cầu khoảng 100 mét là một tiểu đội tiền đồn của tiểu đoàn 9
TQLC đang trấn giữ. Gần 5 giờ sáng tiểu đội này rút về và họ cũng cho
biết nghe rõ tiếng động cơ và tiếng xích xe tăng từ hướng Bắc vọng
xuống như chúng tôi.
Chúng tôi quyết định cho tập hợp các cấp trưởng để bố trí phòng thủ và
phân công nhiệm vụ trong trường hợp đoàn xe tăng đang tới không phải
là xe tăng của đơn vị bạn.
Trung đội 3 được phân chia như sau: Tiểu đội đại liên của Hạ sĩ Sơn
trấn ngay bờ phía Đông cầu Bến Đá và cây đại liên được đặt trên ụ bao
cát ngay đầu cầu. Một tiểu đội tác chiến nằm với ban chỉ huy trung đội
bên bờ phía Tây của cây cầu, một tiểu đội tác chiến khác nối theo tới
cầu sắt xe lửa, tiểu đội tác chiến còn lại của Hạ sĩ Đức trải dài trên
cầu sắt với M-72. Thiếu úy Lai chỉ huy tổng quát toàn trung đội, tất
cả M-72 còn lại của trung đội được gom lại cho toán xạ thủ 5 người sẽ
đứng bắn xe tăng do tôi chỉ huy. Toán này gồm tôi, 3 tiểu đội trưởng
và một tiểu đội phó thâm niên, đứng dàn hàng ngang trước hầm của ban
chỉ huy trung đội, chỉ cách đường Quốc lộ 1 chưa tới 10 mét bên tay
trái bờ Bắc. Hạn chế số xạ thủ tiếp cận chỉ với những chiến sĩ cấp
trưởng, dày dạn kinh nghiệm chiến trường và khi đứng trước mặt hầm ban
chỉ huy trung đội, sẽ đề phòng được tai nạn do tia lửa phụt hậu của
M-72 bắn ra.
Chúng tôi phân công rõ ràng là 5 xạ thủ sẽ đứng bắn những chiếc xe
tăng trước khi chúng tới cầu, những chiếc nào thoát qua lên tới giữa
cầu là nhiệm vụ của tiểu đội trên cầu sắt.
Phân phối nhiệm vụ và bố trí xong xuôi thì trời bắt đầu rựng sáng.
Tiếng động cơ ầm ĩ hơn, ồn ào hơn như vang vọng bên tai, đoàn xe đã
tiến tới gần. Tôi hít vào một hơi thật dài, cố trấn tĩnh quả tim đang
đập vội vã liên hồi trong lồng ngực, "Điệu này là cả một đoàn xe chứ
không phải một vài chiếc", tôi lo lắng nghĩ thầm. Thấu hiểu nỗi lo
lắng của các bạn đồng đội, quay qua các xạ thủ bên cạnh tôi nói thật
lớn để trấn tĩnh các bạn cũng như trấn tĩnh chính mình. "Thủy quân lục
chiến quyết chiến, Thủy quân lục chiến quyết thắng, anh em sẵn sàng!".
Hạ sĩ Sơn lên tiếng hỏi:
- Chừng nào thì bắn anh Lựu?
- Chừng nào tao hô bắn thì bắn!
Dưới chân mỗi người xạ thủ chúng tôi là 3 đến 4 cây M-72 đã giương
nòng sẵn chỉ chờ để được khai hỏa. Siết mạnh cây M-72 trong tay, mắt
tôi nhìn đăm đăm phía trước không chớp...
Từ xa trên đầu dốc, cách chỗ chúng tôi đứng chừng hơn 300 mét xuất
hiện một lá cờ nhỏ gắn trên đầu cây ăng-ten của một chiến xa từ từ lú
lên cao. Ánh sáng mặt trời mới mọc đỏ như máu xuyên qua làn sương mai
lờ mờ khiến tôi không nhìn thấy rõ màu cờ. Lá cờ từ từ nhô lên cao,
rồi đến nòng súng, pháo tháp và toàn bộ chiến xa bắt đầu hiện nguyên
hình.
Chiến xa địch bắt đầu đổ dốc, nó đang xả hết tốc lực, lá cờ đã hiện rõ
nửa xanh nửa đỏ, pháo tháp tròn như hình chiếc nón cối. Đúng là chiếc
T-54 đang đâm thẳng về phía chúng tôi.
Nhớ lại những kinh nghiệm chống tank địch mà Bộ tư lệnh sư đoàn đã
thông báo sau khi tiểu đoàn 6 TQLC bắn cháy và bắt sống chiến xa địch
ở căn cứ Phượng Hoàng tháng trước, chúng tôi cảm thấy vững tâm hơn.
Chiến xa địch tiếp tục tiến về phía chúng tôi... còn cách 250 mét...
200 mét... theo sau chiếc T-54 dẫn đầu là một chiếc PT-76.... 150 mét
- một chiếc PT-76 thứ nhì... 100 mét - một chiếc PT-76 nữa. Tôi dán
mắt vào biểu xích, từ từ xoay người theo hướng di chuyển của chiếc
chiến xa T-54.
Thật tình mà nói, trong lòng tôi lúc này rất mâu thuẫn. Khi chiến xa
địch chưa xuất hiện thì vừa lo vừa háo hức. Lo là vì lần đầu chạm trán
với chiến xa, không biết lát nữa đây khi bắn nó có cháy hay không? Còn
háo hức vì đã nghe nói nhiều nên cũng muốn thử lửa một lần cho biết.
Dịp may hiếm có mà, đời lính dễ gì có một lần được bắn chiến xa địch.
Bây giờ trong khi đoàn chiến xa địch đang tiến đến gần điểm quyết định,
không riêng gì cá nhân tôi mà cả trung đội còn mong cho nó mau tới để
được bấm cò M-72 đang nắm trong tay. Nỗi lo hiện thời đã biến mất, chỉ
còn lại quyết tâm bắn hạ chiếc T-54 ngay những phát đạn đầu tiên, còn
lại mấy chiếc PT-76 sau đó thì dễ hạ hơn nhiều...
100 mét, khẩu đại liên trên chiếc T-54 của địch quân bắt đầu khai hỏa.
Có thể khi đi từ chỗ sáng vào chỗ tối tên xạ thủ đại liên không thấy
đường nên bắn thị uy vào hai bên bờ cầu, sau đó nó ngưng bắn và chiếc
T-54 vẫn ào ào lướt tới, chắc nó tưởng đang đi vào chỗ không người!!!
Khẩu M-72 phát nóng trong lòng tay tôi vì chờ đợi... 80 mét... 70 mét...
60 mét... 50 mét... 40 mét... Binh nhất Thanh - xạ thủ đại liên chụp
cây M-60 trên ụ cát chắn ngay giữa lộ nhắm tên xạ thủ đại liên trên
chiếc T-54 xiết cò, nhưng bắn chưa kịp hết loạt đạn thì anh đã xách
súng nhảy qua một bên đường vì chiếc T-54 đã tràn tới. 30 mét... 20
mét. Tôi hét lớn "Bắn".
Ầm... Ầm... Ầm..., pháo tháp chiếc T-54 lãnh đủ một loạt đạn từ các xạ
thủ M-72. Những ngọn lửa xanh đỏ chớp lóe liên tục. Tiếng những xạ thủ
hét lớn:
- Cháy rồi...
- Nó cháy rồi...
Tôi thấy chiếc T-54 khựng hẳn lại, bốc cháy và tốc độ giảm hẳn đi. Có
lẽ sức chấn động của loạt đạn nổ đã làm cho những tên lính Bắc quân
trong xe tăng bị thương rồi, lúc này nó chỉ còn trớn lướt tới mà thôi.
Lúc nó lướt qua mặt chúng tôi, tôi chỉ cảm thấy bóng đen của một khối
sắt khổng lồ với những chấn động mạnh, rung chuyển cả khoảng đất chúng
tôi đang đứng vì lúc đó chúng tôi chỉ đứng cách nó khoảng chừng 6, 7
mét mà thôi.
Chiếc tank T-54 của địch như một con dã thú bị thương đang trườn tới
giữa cầu. Quay người lại tôi bồi thêm một phát M-72 vào ngay sợi xích
của nó. Một ánh lửa lóe lên, những mảnh xích bay tung tóe trên cầu.
Cùng lúc đó tiểu đội trên cầu sắt tặng nó thêm mấy quả M-72 khiến nó
bị bốc cháy như một ngọn đuốc.
Khi vừa lết qua khỏi cây cầu tới bờ Nam thì một tiếng ầm dữ dội vang
lên. Chiếc M-41 tăng phái cho tiểu đoàn 9 TQLC nằm ở bờ Nam cây cầu
bồi thêm cho nó một phát 76 ly banh luôn pháo tháp, nằm gục bên vệ
đường hướng Đông Nam.
Chiếc PT-76 vừa trờ tới bị trúng luôn mấy trái M-72 của tụi tôi bốc
cháy dữ dội, những tên bộ đội tùng thiết nhảy ra khỏi xe, một số rớt
xuống dòng sông nước chảy xiết, một số chạy qua bờ Nam cầu thì bị các
chiến sĩ tiểu đoàn 9 TQLC bắt sống. Khi chiếc PT-76 này bò tới giữa
cầu thì bị tiểu đội trên cầu sắt gửi thêm mấy quả M-72 nên chỉ còn đủ
trớn lết qua khỏi cầu thì nằm cán lên chiếc T-54 và cả hai biến thành
một khối lửa.
Tôi nghe tiếng Hạ sĩ Sơn hét lớn " Cho mày chết!".
Đúng lúc đó chiếc PT-76 thứ nhì bị trúng một loạt đạn M-72 của các xạ
thủ từ xa, bốc cháy ủi vào hàng rào phòng thủ của trung đội. Những
chiếc còn lại hốt hoảng quay đầu chạy về hướng Đông, dọc theo bờ Bắc
sông Ô Lâu tẩu thoát.
Xong trận diệt tank Bắc quân, anh em chúng tôi vui mừng vì không ngờ
mình lại hạ được tank địch một cách quá dễ dàng như vậy. Kiểm điểm lại
quân số thì được biết Thiếu úy Lai bị thương vì trúng đạn đại liên của
địch. Sau đó anh đã được tải thương về đại đội. Ngay trong ngày hôm đó
Đại úy Tôn Thất Trân đã cho mang thêm M-72 bổ sung cho trung đội 3.
Tôi nghe tiếng anh nói trên máy truyền tin PRC-25: “Thằng 3 đánh một
trận diệt tank địch để đời... Lựu à! Ráng chăm sóc anh em chờ thẩm
quyền Lê Lai trở lại...".
- Tôi nghe Đại bàng 5 trên.
Tiếng nói của người anh cả đại đội làm tôi nhớ đến lời anh trấn an
ngày tôi bị thương ở Hạ Lào năm trước, đã làm tôi ấm lòng.
10 giờ sáng hôm đó Đại tá Phạm Văn Chung, Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 369,
tới quan sát chiến trường ghi nhận thêm các kinh nghiệm chống tank. 1
giờ trưa cùng ngày, cánh B tiểu đoàn 7 TQLC được lệnh di chuyển về Mỹ
Chánh ở bờ Nam sông Ô Khê thuộc quyền lữ đoàn 369.
Cuối tháng 8 năm 1972 tiểu đoàn 7 TQLC được điều động vào Chợ Sãi -
Triệu Phong để ngăn chận việc tiếp tế bằng đường thủy của Cộng quân
vào cổ thành và tỉnh lỵ Quảng Trị trên sông Thạch Hãn. Tôi bị thương
tại đây vào đầu tháng 9. Lần bị thương thứ nhì này đã làm cho tôi phải
rời xa đơn vị vĩnh viễn, trở thành một phế binh. Lần thứ nhất tôi bị
thương tại Hạ Lào năm 1971.
Đã hơn 30 năm qua từ ngày tôi rời xa đơn vị nhưng những kỷ niệm từ
ngày đầu tiên cho đến những ngày cuối cùng với tiểu đoàn 7 TQLC, nhất
là trung đội 3, đại đội 3 không hề rời xa tâm hồn tôi. “TQLC sống hùng,
sống mạnh nhưng không sống dai”. Đó là câu nói đùa từ cửa miệng của
anh em chúng tôi.
Xin thành kính nghiêng mình trước anh linh của các chiến hữu đã hy
sinh để bảo vệ quê hương, bảo vệ màu cờ sắc áo. Tôi vẫn và mãi mãi sẽ
không bao giờ quên câu tâm niệm của người chiến binh Thủy Quân Lục
Chiến.
"Sống đội mũ xanh, chết mặc đồ rằn".
Viết theo lời kể lại của Thượng sĩ Thái Công Lựu, Virginia - USA.
Trung đội phó Trung đội 3 - Đại đội 3 - Tiểu đoàn 7 TQLC.
Nguyễn Ngọc Minh
Nguyễn Trãi B363 -
Tiểu đoàn 7 TQLC
|