Cánh đồng bất tận
Nguyễn Ngọc Tư
Chương Một
Con
kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định
dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi
này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang
chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn. Cha tôi tháo cái khung tre chắn
dưới sàn ghe, bầy vịt lúc nhúc chen ra, cuống quýt, nháo nhào quẫy
ngụp xuống mặt nước váng phèn. Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại
trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám trên vai Điền khi nó
trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại. Tôi bưng cái cà
ràng lên bờ, nhóm củi.
Rồi ngọn lửa hoi hót thở dưới nồi cơm đã lên tim, người đàn
bà vẫn còn nằm trên ghe. Ngay cả ý định ngồi dậy cũng xao xác tan mau
dưới những tiếng rên dài. Môi chị sưng vểu ra, xanh dờn. Và tay, và
chân, và dưới cái áo mà tôi đã đắp cho là một cái áo khác đã bị xé tả
tơi phơi những mảng thịt người ta cấu nhéo tím ngắt.
Và những chân tóc trên đầu chị cũng đang tụ máu. Người ta đã lòn
tay, ngoay chúng để kéo chị lê lết hết một quãng đường xóm, trước khi
dừng chân một chút ở nhà máy chà gạo. Họ giằng ném, họ quăng quật chị
trên cái nền vương vãi trấu. Vai nữ chính, một người đ àn
bà xốc xếch đã lạc giọng, đôi lúc lả đi vì ghen tuông và kiệt sức.
Nhưng đám đông rạo rực chung quanh đã vực tinh thần chị ta dậy, họ
dùng chân đá vói vào cái thân xác tả tơi kia bằng vẻ hằn học, hả hê,
quên phứt vụ lúa thất bát cháy khô trên đồng, quên nỗi lo đói no giữa
mùa giáp hạt. Cuộc vui hẳn sẽ dài, nếu như không có một ý tưởng mới
nảy ra trong cơn phấn khích. Họ dùng dao phay chạt mái tóc dày kia,
dục dặc, hì hục như phạt một nắm cỏ cứng và khô. Khi đuôi tóc dứt lìa,
được tự do, chị vùng dậy, lao nhanh xuống ghe chúng tôi như một tiếng
thét, lăn qua chân tôi, đến chỗ cha, làm đổ những bao trấu cha vừa mới
xếp.
Đám người ngơ ngác mấy giây để chấp nhận việc con mồi bỏ chạy.
Tôi mất mấy giây để háo hức thấy mình nghĩa hiệp như Lục Vân Tiên, tôi
lồm cồm xô ghe dạt khỏi bờ, sợ hãi và sung sướng, tôi cầm sào chống
thục mạng ra giữa sông, mắt không rời đám người đang tràn ra mé bờ
chực lao xuống, nhảy nhót điên cuồng. Rồi tiếng chửi rủa chói lói chìm
đi, tiếng bầy vịt tao tác kêu dưới sạp chìm đi, trong tôi chỉ có âm
thanh của chiếc máy Koler4 nổ khan, rung bần bật dưới tay Điền, khạc
ra những đám khói khét lẹt, đen ngòm. Khói trôi về phía sau chúng tôi,
mờ nhoè những bóng người đang tuyệt vọng ngó theo, bàn tay nào đó cầm
nắm tóc của chị vẫy lên phơ phất phơ phất …
Cha tôi không đóng vai trò gì trong cuộc tháo chạy ấy, ông im
lặng, khi đã đi khá xa, cha ra đằng mũi cầm sào. Tôi bò vào trong ghe,
lấy áo đắp lên người chị, sao cho che được đôi vú rách bươm và khoảng
đ ùi
rướm máu. Chị cười mếu máo, nói cảm ơn bằng mắt và thiếp đi.
Suốt một quãng đường, chị không hề thay đổi thế nằm, im lìm,
lạnh ngắt như người chết. Trong ghe chỉ trôi mênh mang những tiếng rên
khi dài, khi ngắn, khi thiu thỉu buồn xo, lúc nghe như tiếng nấc nghẹn
ngào…
Nhờ vậy mà chúng tôi biết chị còn sống, để đi với chúng tôi gần
hết con sông Bìm Bịp, đến cánh đồng hoang vắng này. Điền hơi lo lắng
khi nghe chị vẫn còn rên rỉ, nghĩ là chị đã đói, nó hối tôi nấu cơm
mau. Nó thấy tiếc vì trên ghe chỉ còn mấy con khô sặt mặn chát, "tui
nuốt còn không vô, nói chi…"
Nhưng chiều hôm đó và cả ngày sau, chị không ăn. Chị từ chối cả
uống nước, đợi đôi môi khô đã bắt đầu nứt ra, chị mới chịu hớp một vài
ngụm ít ỏi, dường như chỉ đủ ướt môi. Đói và khát, nhưng chị còn sợ
đau hơn. Người ta đã đổ keo dán sắt vào cửa mình của chị…
Tôi nói lại với cha và Điền trong bữa cơm. Tôi nghe hai người
lặng đi, tiếng đũa tre khua vào miệng chén ngưng bặt. Điền ngó tôi và
tôi thì đọc được sự ghê sợ, kinh tởm cồn lên trong mắt cha. Điền chan
nước vào chén, lua vội vàng rồi men theo con đường đất dọc mé kinh, nó
đi vào trong xóm. Tôi dặn vói theo, ghé tiệm mua giùm ngàn rưỡi đường
cát.
Chắc gió đã bạt mất lời tôi, khi quay về, Điền không mang theo
gì, nó lẳng lặng xòe tay trước mặt tôi, tay nó dính một lớp gì đó,
bóng mượt, trong suốt, và đang
khô quánh lại, khiến những ngón tay đơ ra như đá. Điền bảo, "Keo dán
sắt…". Dường như những người sản xuất ra loại keo này cũng không ngờ
nó nhiều công dụng đến thế. Hai chị em tôi tỉ mẩn lột lớp keo ra, mảng
da non trên bàn tay nó bỏng đỏ nhừ, tươm máu. Chúng tôi cùng ngó về
chỗ khoang ghe, nghe tiếng thở thênh thang cùng gió…
Chương Hai
Cánh đồng không có
tên. Nhưng với tôi và Điền, chẳng có nơi nào là vô danh, chúng tôi
nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỷ niệm mà chúng tôi có trên mỗi
cánh đồng. Chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn, chỗ tôi có
kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Và mai này khi trôi dạt đến một nơi nào khác,
nhắc đến cánh đồng này với cái tên của chị, chắc chúng tôi sẽ xốn
xang.
Sáng sớm ngày thứ ba, chị ngồi dậy được, ngó quanh, chị hỏi,
"Trời đất ơi, chỗ nào mà vắng tanh vậy nè". Làng xóm xa xa đằng phía
những rặng dừa xanh thẩm. Đồng đất trống trơn, trên đôi bờ kinh chơ vơ
những cây gòn. Hai đứa nhỏ đầu mướt sương đang hí húi trộn thức ăn cho
vịt, nhìn chị ngạc nhiên đến ngây ngất. Giọng nói chị không bị thương
tích gì hết, trong vắt và ngọt ngào.
Chị hỏi "Tắm ở đâu, mấy cưng?". Tôi chỉ xuống kinh. Chị ngó
những váng phèn, ngao ngán. Điền nói, đằng kia có một cái ao.
Đó là một hố bom cũ, bình bát mọc quanh, rau muống chằng chịt
phủ kín mặt nước, cọng rau ốm nhằng, đỏ au. Chỗ này, hôm qua, Điền đã
câu được những con cá thát lát ú mềm. Chị trầm mình dưới đó rất lâu,
chẳng kỳ cọ gì, chỉ để nước lạnh chườm dịu lại những chỗ đau. Lúc chị
lên bờ, tôi thấy máu lợn cợn theo những giọt nước nhỏ xuống giữa hai đ ùi,
chắc chị đã làm gì với chỗ keo dán ác nghiệt ấy. Rồi cũng lâu lắc,
cũng cà nhắc từng bước ngắn như lúc đi, chị với tôi quay lại bờ kinh.
Điền hí hửng khi thấy chị chịu mặc chiếc áo sơ-mi thẫm phèn và cái
quần cụt quăn queo của nó.
Chỉ có cha lầm lì dọn cỏ quanh chòi. Chỉ có cha là hờ hững với
thành quả của hai chị em tôi. Không chấp thái độ lạt lẽo của cha, chị
ngó về phía người đ àn
ông đang vồng lưng trong nắng sớm, chếnh choáng: "Ba mấy cưng đẹp trai
dễ sợ…".
Vì lẽ đó? Có phải vì cha mà chị ở lại với chúng tôi, trên một
cánh đồng vắng ngắt. Những vết thương đã lành rất mau. Chị cười, bị
đánh hoài riết cũng quen. Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh. Chị cười,
"Làm đĩ". Rồi có lẽ chị áy náy vì quá sỗ sàng với chúng tôi, chị vò
đầu Điền "chắc mấy cưng không biết đâu…".
Điền nhìn tôi cười. Chúng tôi đã gặp nhiều, rất nhiều người phụ
nữ giống chị. Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đ ê,
lượn lờ quanh lều của những thợ gặt, những người đ àn
ông giữ lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi
tắn nhưng mặt và cổ đã nhão, nhìn kỹ phát ứa nước mắt. Đêm đến, sau
các đụn lúa, họ thả tiếng cười chút chít, tiếng thở mơn man… lên trời,
làm nhiều người đ àn
bà đang
cắm cúi nấu cơm, cho con bú trong lều thắt lòng lại. Tối nào mua rượu
cho cha, chúng tôi cũng đi ngang qua những đôi người. Chúng tôi nhận
ra họ ngay, khi không còn mảnh vải nào trên người họ vẫn điềm nhiên
cười khúc khích và uốn éo thân mình chứ không trơ ra ngượng ngịu, cam
chịu như những người phụ nữ quê. Sáng sau, họ xiêu xiêu biến mất, đem
theo mớ tiền công ít ỏi suốt một ngày làm việc quần quật của đám đ àn
ông.
Chị, cũng
giống như họ, chớm tàn tạ, đói rã ruột ở thị thành mới chạy xuống quê,
cất cái quán nhỏ, giả đò buôn bán bánh kẹo lặt vặt, thực chất là làm
nghề. Ở đó đ àn
ông dễ tính và thiệt thà. Chị sống nhờ những món tiền họ cắm câu đ êm
đ êm,
bằng tiền bán lúa, dừa khô hay những buồng chuối chín. Cũng có lúc thu
hoạch bất ngờ, khi chị mồi chài một người đ àn
ông vào trò chơi giường chiếu, suốt hai ngày đ êm,
và chị được một triệu hai. Đó là vốn vay xoá đói giảm nghèo, khi về
tới nhà, với tám trăm ngàn còn lại trong túi, hẳn người đ àn
ông ấy não nề biết bao nhiêu, oán chị biết bao nhiêu khi thấy vợ con
nheo nhóc bu quanh nồi khoai luộc trong nhập nhoạng nắng chiều.
- Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị đánh cũng
đáng đời, hen mấy cưng?
Chị nói, và ngã nghiêng cười, dường như chị thấy mình trả giá
vậy cũng vừa. "Mà hên nghen, nhờ vậy mà gặp được mấy cưng, được ở
chung vầy, vui thiệt vui...".
Cha không vui, vì có thêm một miệng ăn. Bầy vịt cũng không vui,
chúng mổ vào chân chị mỗi khi chị bước qua rào, "bà ở đây làm chi để
phần ăn của tụi tui bị xén bớt, trong máng độn toàn là trấu ngán thấy
ông thấy cha, đã vậy còn bắt tụi tui đẻ trứng để nuôi bà". Chị nhảy
xổm ra, la oai oái, sau lại cười (mà con mắt đung đưa phía cha) "mai
mốt mấy con vịt quỷ này sẽ khoái chị, mấy hồi…".
Nhưng tôi và Điền biết thể nào chị cũng ra đi, trong mỏi mòn.
Quãng thời gian chị bên chúng tôi, vì thế cũng mong manh. Nhiều khi
lùa vịt ăn mót một đỗi đồng, nghĩ chị bỏ đi, Điền thảng thốt chạy về.
- Mấy cưng thương chị thiệt hả? Tội chưa…!?? ".
Chị ngạc nhiên, thấy nước mắt ràn rụa trên má thằng Điền (mà chị
không biết là nó bị bệnh chảy nước mắt sống từ hồi chín tuổi). Thật
cảm động khi đời đánh ta tả tơi bầm dập, vậy mà hai đứa nhỏ này lại
trìu mến, quyến luyến lạ lùng. Thêm một lý do nữa để chị ở lại với
chúng tôi, trong một mùa hạn nóng bỏng, bất thường.
Mùa đến sớm. Vì vậy mà nắng rất dài. Mới rồi, chúng tôi dừng
chân ở một xóm nhỏ bên bờ sông lớn mênh mang. Mỉa mai, người ở đây lại
không có nước để dùng (như chúng tôi đi trên đất dằng dặc mà không có
cục đất chọi chim). Người họ đầy ghẻ chóc, những đứa trẻ gãi đến bật
máu. Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nước khỏi sánh ra
ngoài vì đường xa, nước mắc. Buổi chiều đi làm mướn về, họ tụt xuống
ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước
vo cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong dành rửa cá. Con nít ba tuổi đã
biết quý nước, mắc lắm cũng ráng chạy ra vườn đái vô chậu ớt, chậu
hành (báo hại cây rụi lá). Ở đó, có người con trai bảo, "ước làm sao
trước lúc má tui chết, bà được
tắm một bữa đã đời". Câu nói này làm tôi thương anh ta quá chừng. Hôm
tôi đi, anh tần ngần đứng bên hè, hỏi nhỏ "Không biết em có muốn ở lại
với… má tui?!". Tôi lắc đầu, hai gàu nước ít ỏi của má anh, tôi nỡ nào
sẻ nửa?
Tôi giục cha rời khỏi cái xóm tàn tạ đó. Những cánh đồng chúng
tôi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông. Người ta không thể trồng đậu,
trồng dưa vì thiếu nước. Bầy con nít giỡn nhoi trên những con kinh khô
trơ lòng.
Chỗ chúng tôi cắm lều cầm vịt, nước đã sắc lại thẫm một màu vàng
u ám. Nhưng chúng tôi chẳng có chỗ nào để đi nữa, từ bờ bên kia của
sông Bìm Bịp là vùng đệm cho những cánh rừng tràm lớn. Mùa này, người
ta lấy nước từ tất cả các dòng sông nhỏ, các con kinh để bơm vào rừng,
chống cháy. Chúng tôi cũng không thể ngược sông Bìm Bịp băng qua vùng
Kiên Hà, ở đó họ kiểm dịch thú y rất gắt gao. Và dịch cúm gia cầm nghe
đâu vẫn còn bùng phát khắp đồng bằng.
Để bầy vịt khỏi bị chôn sống (điều đó đồng nghĩa với việc đứt
vốn cho mùa sau), bọn tôi quyết định vẫn cầm chúng ở đây. Chúng được
nuôi trong sự mỏi mòn. Ngày ngày, tôi lùa vịt đi ăn mót những bông lúa
khô quắt queo trên đồng, không có nước chúng bì bạch, chậm rì và chẳng
thể đi xa. Trứng thưa thớt, những quả trứng chúng đẻ ra cũng chai
ngắt, dài nhằng, nhẹ tênh, vỏ dày sần sượng. Đòi hỏi gì nữa ở những
con vịt đã già, đã đẻ quần quật suốt ba mùa trước, đã vô vọng vì ngày
càng khó tìm lúa và cám trong máng thức ăn. Ngay cả nước để chúng tắm
táp cũng chua lét vì phèn.
Mà, mùa mưa vẫn còn xa lắm.
Ngày ngày, Điền rủ chị đi giăng lưới, nhắp cá và tát những cái
mương cạn. Cá ăn không hết, chị đem vô xóm bán và hãnh diện đưa cho
cha vài mươi ngàn thừa sau khi đã sắm ít quần áo. Mắt chị nhìn cha đầy
khiêu khích, "Cuộc đeo đuổi vẫn còn dài, cưng à…".
Chị đổ lì. Chị tìm mọi cách để sà vào cha. Một bữa chị bảo Điền
xuống ghe ngủ với tôi, còn chị sẽ lên chòi. Đó là một đ êm
tối nhờ nhờ, trôi trên trời một mảnh trăng mỏng leo lét. Điền ngọ
nguậy, xoay trở liên tục, nó kêu khó ngủ, đòi nghe tôi hát, bài gì
cũng được. Nhưng Điền vẫn thao thức, dường như giọng hát tôi không át
được tiếng sột soạt rạo rực trong cái chòi nhỏ trên bờ. Điền chê ngủ
ghe chòng chành quá chừng. Tôi biết lòng nó đang chao.
Điền có những ngày bối rối. Nó hay hỏi tôi, "người ta thương mẹ
ra làm sao?". Mặt nó dãn ra, khi biết cây kẹp tóc, trái dừa tươi hay
con cá thác lác… mà nó dành cho chị cũng giống hệt như người ta vẫn
thường cho mẹ. Và niềm nhớ lúc đi xa, nỗi khao khát được nằm gần, được
dụi mũi mình vào da thịt người đó… cũng tự nhiên như ý nghĩ bình
thường nhất của những đứa con. Nhưng những nghi hoặc vẫn loay hoay
trong mắt Điền, và nó quyết định chịu đựng một mình, khám phá một
mình. Thí dụ như đ êm
nay, cái gì khiến tim ta đau nhói, cái gì làm cho ta cảm thấy giận dữ,
nặng nề?
Khi tôi thức dậy, Điền đã mệt mỏi thiếp đi, nó nằm co quắp, hai
tay kẹp giữa đ ùi,
mặt buồn như phủ một lớp sương giá. Chị bước ra khỏi chòi, khoan khoái
vươn vai. Sự ưng ý, mãn nguyện lấp lánh trên khoé mắt. Khuôn mặt chị
tràn ngập ánh sánh, như chị vừa mở ra một cánh cửa mặt trời. Có một
con đường nào đó trãi dài trước chị. Chị cười, bảo:
- Hồi hôm sương nhiều ghê, nó nhiểu lên mặt chị hoài, nhột gần
chết.
Rồi chị giành nấu cơm. Chị xoắn tay áo lên hì hụi thổi lửa, đầu
tóc xấp xãi dính đầy vảy cá. Trông chị như bà vợ tảo tần. Hình ảnh ấy
làm tôi ứa nước mắt, nhưng cha tôi chỉ lạt lẽo nhếch cười. Vì cái cười
đó mà tôi ứa nước mắt thêm lần nữa.
Cha đưa chị
một ít tiền ngay trong bữa cơm, khi nhà đủ
mặt, "Tôi trả cho hồi hôm…". Rồi cha điềm nhiên phủi đít đủng đỉnh
đứng lên, sự khinh miệt và đắc
thắng no nê trong mắt. Chị nhét tiền vào trong áo ngực, cười, "Trời
ơi, ba mấy cưng sộp quá chừng".
Điền và tôi rủ chị đi câu (Chúng tôi cho là chị buồn, dù chuyện
đó khá tức cười, làm điếm được trả tiền mà buồn nỗi gì). Suốt buổi,
không dính con cá nào, chị nói, "Mắc cười quá, tới mấy con cá quỷ này
còn chê chị". Câu nói nghe tỉnh bơ, bâng quơ mà tủi vô phương. Điền
lặng bắt con cá rô lội xuống mương, lặn sâu, móc cá vô lưỡi câu của
chị. Lúc nó trồi đầu lên thì đã thấy chị cười.
Trưa ấy chúng tôi trầm nghịch dưới nước rất lâu. Chị cười nôn
khi thấy bùn bám dưới mũi tôi xám xanh như bộ râu củ ấu. Tự dưng nét
mặt chị bỗng âu yếm lạ, như đang nựng nịu một đứa bé con và thằng em
trai mười bảy tuổi của tôi đứng đực ra, chết lặng trong nỗi ngượng
ngùng. Nước cồn cào chỗ bụng nó, tôi biết chị đang táo tợn làm gì đó
phía dưới. Rồi phát hiện ra một mất mát lớn lao, chị thảng thốt kêu
lên:
- Trời đất ơi, sao vầy nè, cưng?
Chị toàn hỏi những câu hỏi khó. Chỉ nghe thôi đã đau, nói chi
trả lời. Thí dụ như có lần chị hỏi "Má mấy cưng đâu?", "Nhà mấy cưng ở
chỗ nào?", thằng Điền đổ quạu:
- Biết chết liền!
(xem tiếp) |