TRANG TRUYỆN NGẮN
 

 

MÙA GẶT

          
* Xuân Vũ  TRẦN Đ̀NH NGỌC

 

Buổi sáng chưa rơ mặt người nhưng trên các con đường nhỏ thông vào các xóm, các giong, đă có nhiều người đi lại. Bến sông cũng có những cô gái, những người đàn bà nói chuyện với nhau. Họ đang vo gạo, rửa rau lo bữa ăn sáng.

Mùa gặt đă bắt đầu v́ lúa đă chín. Mọi người phải dậy thật sớm để lo hàng trăm công việc ngày mùa. Người có ruộng đă đành c̣n người không có ruộng cũng bận rộn: họ đi gặt mướn, gánh mướn, kéo đá mướn kiếm tiền. Suốt năm chi trông vào ngày mùa nên vụ gặt tới là ai cũng nô nức. Sự sống, sự chi tiêu suốt năm của mỗi gia đ́nh chỉ trông vào hai vụ lúa thời đó: vụ chiêm, tháng năm và vụ mùa, tháng mười. Vợ chồng bác Ước và con cái đang lo cho vụ mùa này được suông sẻ.

 Con Vện sủa vài tiếng lấy lệ v́ thấy người quen đă từng ra vào nhiều lần để đón hai anh em Cung và Cách đến gặt thuê cho gia đ́nh bác Ước hôm nay.

       Đầu đội nón lá h́nh thù như nón bài thơ các thiếu nữ hay đội nhưng nông và doăng hơn, khung tre cứng và lá đan dầy để chịu đựng nắng mưa, có quai bằng mấy sợi cói bện, rịt xuống cằm cho gió khỏi bay, trên ḿnh Cung và Cách là  bộ quần áo cánh nhuộm nâu già đă nửa mạc, chỗ đậm, chỗ bạc phếch với phong sương và mồ hôi muối. Ống quần xắn lên đến đầu gối cho thấy những bắp thịt chắc nịch ở ống quyển và hai bàn chân to, thô, vững vàng; cánh tay áo cũng xắn lên tới khuỷu để lộ những đường gân xanh, to từ trên đi xuống đôi bàn tay to, cứng, gân guốc. Cung và Cách chào bác Ước, xong giở nón ra và ngồi ở bờ hè gạch.

       “Hai cháu có mang hái đó sao?” Bác Ước thấy mỗi người cầm một cái hái nên hỏi.

       “Hái quen mới làm ra việc, chú Ước.” Cung trả lời bác Ước đang khi vê một điếu thuốc lào,”Tụi cháu đi gặt đâu cũng mang hái của nhà đi. Hái mới mài lại hôm qua, sắc lắm.”

       Có nhiều toán thợ gặt từ những vùng khác đến đ̣i chủ nhà phải cung cấp hái, đ̣n xóc và tất cả những dụng cụ phụ thuộc để làm việc. Họ chỉ đi người không và đến lúc trả tiền công, có người chỉ lấy tiền, không lấy thóc. Họ bảo đ̣i hỏi kiểu đó cho nhẹ ḿnh và mới có thể đi gặt mướn được nhiều nơi, kiếm được nhiều tiền. Lỉnh kỉnh với đồ nghề chỉ hết ngày. Đó là những người chuyên gặt mướn. Họ đứng cả bọn mấy chục người ở chợ Búng mỗi buổi chiều về mùa gặt để các chủ ruộng muốn mướn người ra đó mặc cả công xá.

       Cách lấy cái đóm để ở bát điếu vào bếp lấy lửa rồi trao cho anh. Cung đặt ngọn lửa vào nơ, bập bập mấy cái rồi rít một hơi, tiếng nước lóc cóc reo vui trong bát điếu. Anh ta ngửa cổ phà khói lên trời, tay vẫn giữ cái đóm cháy, trao cho Cách. Cách thông nơ điếu, bỏ mồi thuốc vào và tiếp lấy cái đóm cháy từ tay Cung, hút. Cách vừa nhả xong khói thuốc th́ có tiếng bác Ước gái ngoái đầu từ trong bếp gọi ra:

       “Bố Hướng ơi, cơm được rồi.”

       Bác Ước kêu Cung và Cách. Hai anh thợ gặt theo chủ nhà vào căn bếp. Chiếc chiếu lớn trải giữa nền nhà. Giữa chiếu bày một cái mâm bằng gỗ có chân cao độ hai đốt ngón tay, nước sơn đen đă loang lổ. Trên mâm có đĩa rau muống luộc, có cá rô kho, bát cà nén và một bát nước mắm.

       Ba người đàn ông ngồi xuống, bắt đầu xới cơm và ăn dưới ánh đèn dầu lạc lờ mờ. Cơm gạo đỏ nhưng ngọt sớt, bốc khói thơm ngát quyện với mùi cá kho mặn mặn và cà nén chua chua làm chảy nước miếng.

       Trời đă sáng hơn tuy chưa rơ mặt người. Những con gà trống lại gáy chập thứ hai. Đám gà mái và gà con thấy sáng chạy xôn xao trong chuồng. Phía chuồng lợn sau bếp ba con lợn thịt ủn ỉn đ̣i ăn.  Đây là phần việc của Hương, cô con gái thứ nh́ của bác Ước, đă mười bốn tuổi. Chị Hường, chị của Hương, hơn Hương ba tuổi đă đi lấy chồng trước Tết Nguyên đán vừa qua nên những công việc trong nhà trước đây do Hường đảm trách th́ nay giao hết lại cho Hương.

       Hương đang nấu nồi cám lợn trong bếp, tay trái cô nhẹ nhàng lùa từng lọn rơm nhỏ vào trong bếp cho cháy, hết lọn này đến lọn khác, tay phải cầm cái que cời bằng sắt tṛn như cái bút ch́, dài khoảng cánh tay có cán gỗ đàng hoàng, lúc dặt than cho êm xuống, lúc nâng rơm lên cho dễ cháy một cách khéo léo và ít tốn rơm. Hương có thể nấu như vậy một lúc ba bếp mà vẫn kịp xoay xở: canh, rau không trào, tra mắm tra muối đàng hoàng; c̣n cơm không cháy, không khê, nước cạn là ghế và vùi than cho chín.

       Hường, Hương cũng như các cô gái nông thôn thời đó đều đă được bà và mẹ dạy cho từ khi chín, mười tuổi có thể đảm đương mọi việc của nhà nông sau này.

Sau mấy bát nước chè tươi nóng hổi và mấy điếu thuốc lào quá đă, bác Ước, Cung, Cách và Hướng - anh Hương - kẻ trước người sau theo nhau ra đồng.     Con đường đất nện, hai bên cỏ mọc um tùm c̣n đẫm sương đêm trông như những viên kim cương. Trời mùa hè buổi sáng mát rượi, bầu trời xanh và cao báo hiệu một ngày tốt trời.

       Đă sáng rơ, từ trong các xóm, các ngơ tủa ra đồng, từng tốp, từng tốp năm bảy người, vừa đi vừa chuyện tṛ, vai đeo hái, vai vác đ̣n càn, đ̣n xóc  lủng lẳng cái điếu cày hoặc mớ lạt dài để bó lúa.  Mấy đứa trẻ bằng tuổi Vọng hoặc Nguyện th́ xách cái ấm đất có quai với vài cái bát để uống nước.

       Người trong xóm gọi nhau ơi ới. Nhà có lúa chín được gặt th́ đi gặt, nhà chưa được gặt th́ ra thăm ruộng để coi xem lúa mạ có yên không, đêm rồi có ǵ xẩy ra cho ruộng lúa của ḿnh không? Luôn luôn phải đề pḥng chuột mát cắn hại hay là có người gặt trộm, nhất nhất đều phải lưu ư từng li từng tí v́ “trồng cây đă đến ngày ăn quả”, không thể lơ là để thất thoát được. Tất cả tài sản của nông dân là những ruộng lúa này. Nó là sự sống, sự yên vui của cả gia đ́nh mà người nông dân đặt hết hi vọng vào. Nó cũng là niềm hănh diện với xóm, với làng, với người thân kẻ sơ khi có số thu hoạch cao. Ngược lại, nó là niềm tủi hổ chua chát. V́ vậy, trong suốt vụ chiêm cũng như mùa, người nông dân Việt đă đem hết sức lực, th́ giờ và tiền bạc, lúa thóc ra đầu tư vào ruộng đất để bảo đảm số thóc gặt được vào mức trung b́nh hoặc trên trung b́nh nếu không nói là ai cũng mong mỏi bội thu, đầy bồ, đầy cót.

       Cánh đồng vàng rực những bông lúa chín đă hiện ra trước mắt toán thợ gặt. Bao la bát ngát lúa chạy dài đến tận phương trời, đến những lũy tre xanh của các làng, các tổng khác. Một ngọn gió thổi tới, những bông lúa nặng trĩu ngả thân uốn mềm theo gió trông như những đợt sóng biển mầu vàng. Lúa reo vui trong gió sớm để đón ánh b́nh minh đỏ rực vừa hiện lên từ phương Đông. Đám mây ngũ sắc phản chiếu ánh sáng rực loé trên nền trời xanh làm bầu trời dần dần sáng rỡ, lung linh, tạo thành một bức họa thiên nhiên tuyệt tác. Vài con trâu cái đen xanh, lững thững trên bờ ruộng, thỉnh thoảng lại dừng lại ngửa cổ rống lên mấy tiếng “ú, ú” gọi con, làm mấy con nghé đang tung tăng nhảy nhót từ xa vội vàng phóng trở về bên mẹ. Và chúng lại húc đầu vào mấy bầu sữa căng hồng để đón lấy những giọt sữa thơm mát đầu ngày.

       Bác Ước và Cung bỏm bẻm nhai trầu, riêng bác Ước ăn trầu thuốc. Bác nhai chung trầu với một bi thuốc lào cho đậm đà. Bác đă có thói quen đó từ mấy năm nay từ một mùa Đông quá rét, bác phải ăn trầu xỉa cho ấm mới làm việc được.

       Ruộng khô nên cũng dễ gặt. Cung và Cách thấy ruộng là nhảy ào xuống. Tiếng lưỡi hái chạm thân lúa nghe “xoẹt, xoẹt” ngọt như dao bầu băm củ chuối. Bốn người đàn ông đều gặt. Bác Ước và Cung, Cách th́ đă quá thạo, chỉ có Hướng là mới tập gặt v́ Hướng năm nay mới mười sáu tuổi. Hướng đứng nh́n Cung, Cách gặt và bắt chước. Tay trái Cung vơ lấy một bụi lúa xoăn xoẳn vừa vừa, thường là hai hoặc ba gốc lúa liền nhau. Chỉ một cái chuốt tay là các cây lúa đứng thẳng, suông đuột và đều, rồi tay phải đưa nhanh lưỡi hái vào thân lúa cắt xoẹt một cái, tay trái đỡ lấy những bông lúa vừa bị đứt rời ra, lại giữ nó trên tay để cắt lượm khác. Khi nào trên tay đầy không ôm được nữa th́ Cung mới quay nguời lại kiếm ba gốc rạ, bẻ chụm đầu vào với nhau và đặt lượm lúa lên đó để đi cắt lượm khác.

       Mới đầu, Hướng c̣n ngượng tay, sau vài tiếng đồng hồ thấy đă cắt nhanh hơn. Hướng ham với công việc đến nỗi quên cả lên bờ nghỉ mấy phút để uống bát nước hoặc hút điếu thuốc, trong khi đó, mồ hôi bắt đầu đổ ra từ lưng, từ trán, từ mặt v́ mặt trời đă lên cao, sức nóng đổ xuống cánh đồng như thiêu như đốt.Có những lúc mồ hôi quá nhiều chảy vào mắt nghe xót xót, Hướng phải nghỉ tay dùng vạt áo quệt đi.

       Ba thợ chính và một thợ phụ gặt đến gần ngọ th́ đă được một số lúa khá. Giờ này họ chỉ mong gánh cơm từ nhà đưa ra để vừa ăn, vừa nghỉ dưới gốc cây đề một lát cho lại sức rồi lại tiếp tục gặt buổi chiều.

       Gió hây hẩy thổi nhẹ. Nếu không có gió, cái nóng c̣n ghê gớm hơn nữa. Nhưng nóng đến đâu th́ nóng, nắng chói mắt đến đổ hào quang là cùng, nóng vẫn c̣n phúc đức hơn mưa gấp bội. Đang gặt hái vui vẻ thế này mà mưa ập đến, ấy là khốn khổ khốn nạn cả vùng. Lúa chưa gặt th́ rạp xuống bùn, mất mát, v́ sau này lúc gặt bị chân dẵm lên hoặc bị chuột xông ra ăn, gặt vừa tốn công, lúa lại bị bùn đen thui đen thủi. Lúa gặt về sân bị mưa liền nảy mộng, hoặc nếu có chạy kịp vào nhà cũng bị ẩm, bị mục v́ thiếu nắng, thóc xay ra toàn tấm với cám, hàng xáo không muốn mua.

       V́ vậy, dù nóng thế chứ nóng nữa, bác Ước vân vui vẻ trong ḷng. Bác mong cho gặt xong, kéo đá, ṿ, phơi phóng hạt thóc cho săn, cho khô, quạt sạch bụi bặm và đổ vào nong, vào cót, ấy là bác mới hoàn toàn yên tâm. Tuy luôn tay gặt đấy nhưng thỉnh thoảng bác vẫn nh́n lên bầu trời xem có mây đen kéo đến không và nếu trời đang nóng như thiêu như đốt thế này mà bỗng đổi vài luồng gió mát mát, lạnh lạnh, bầu trời vần vũ đặc kịt mây đen, ấy là ruột bác đánh sóng, bác sẽ cuống cuồng không biết xoay xở ra sao với ông trời.

                                                                                 ***

       Bác Ước trông thấy Hương với gánh cơm trên bờ ruộng liền bảo Cung, Cách và vợ con bác nghỉ tay ăn cơm.

       Mọi người đến cái vũng nước ở kế đó vớt nước lên rửa mặt, rửa tay cho bớt dơ. Vũng nước nông cời, nóng hừng hực, để yên c̣n trong trong,tay khùa vào vớt nước là bùn nổi lên đục ngầu. Mặc. Ăn thua ǵ. Có tí nước, dù nước bùn cũng giúp đôi tay sạch sẽ hơn để ăn cơm. Tay ướt th́ chùi vào quần, vào áo đang mặc trên người là tay khô ngay. Cuộc sống thôn dă nghèo nàn chỉ có thế, từ đời ông bà cha mẹ đến con cháu, riết rồi cũng thành quen. Không ai sợ dơ, sợ bẩn mà cũng không đ̣i hỏi ǵ hơn, bởi đ̣i hỏi cũng không có. C̣n ngại ngùng sợ lấm, sợ dơ, sợ nắng rát mặt, sợ mưa ướt đầu th́ chỉ có đói.

       Bác Ước gái rửa tay xong lên trước nhất để đón Hương. Sáng nay bác ra ruộng hơi muộn v́ phải lo nhiều công việc ở nhà. Khoảng mặt trời lên một con sào, bác mới có mặt ở ruộng. Bác không biết sử dụng lưỡi hái nhưng bác đi quanh ruộng lấy liềm cắt lúa ở những chỗ khó trong góc trong kẹt. Bác phải làm v́ bác không muốn những người đàn ông mất th́ giờ với những chỗ khó gặt như thế. Bác cũng săn sóc những lượm lúa bị tung, bị đổ và sau cơm trưa, bác chỉ có mỗi một việc là đội từng bó lúa về sân.

       Vọng và Nguyện đi mót lúa tai ruộng nhà. Hai đứa trẻ sáng mắt không để sót một bông thóc lạc lơng nằm trên ruộng.Vọng c̣n bảo Nguyện sau cơm trưa, Vọng sẽ sang mót lúa ở ruộng người khác, ruộng nhà chỉ ḿnh Nguyện là đủ. Mùa chiêm rồi, hai đứa mót được đến mười lăm thùng thóc làm Hương cứ phân b́ là không được mẹ cho đi mót.

 

                                                                                ***

 

       Cây đề lớn trên g̣ mả ở giữa cánh đồng cho cái bóng khá to, khá mát. Hương đặt quang gánh xuống khoảng đất bằng phẳng tránh những chỗ rễ đề chằng chịt mấp mô sợ mất thăng bằng, đổ cơm canh.

       Hương lấy ra hai, ba tầu lá chuối lớn đă cắt sẵn trải trên đất làm mâm. Cô sắp bát đũa ra xung quanh và đặt xoong canh, đĩa cà muối, chén mắm tôm và đĩa tép kho ở giữa. Cái muôi lớn đặt ở cạnh xoong để mọi người tự tiện múc canh chan. Ở nhà, Hương bày biện bát chén đủ lệ bộ nhưng ra đồng giản dị được chừng nào tốt chừng đó. Ăn cho no bụng, cho xong bữa rồi c̣n làm tiếp, không ai có th́ giờ để nghĩ đến bát này, chén nọ, cà kê dê ngỗng.

       Nồi năm cơm Hương thổi, cũng phải năm, sáu đấu gạo, xoong canh mồng tơi nấu với mắm khá to thế mà chỉ một loáng đă quay lơ ra. Ấy là bữa trưa ai cũng ăn vừa vừa phải phải để c̣n làm; ăn no quá nặng bụng làm mau mệt, chứ bữa tối có thể ăn nhiều hơn v́ công việc sau đó thường nhẹ hơn.

       Bác Ước đang ngồi trên một rễ đề lớn th́ nhiêu Bổng từ đàng xa đi tới. Chiếc áo nâu ướt đẫm mồ hôi ở lung, ngực và cánh tay, nhiêu Bổng giở cái nón xuống phe phẩy vào mặt cho mát:

       “Ông Ước hôm nay gặt thửa này đấy ư?”. Nhiêu Bổng hỏi lớn khi ông ta c̣n cách bác Ước khoảng vài chục thước.

       Bác Ước cười với nhiêu Bổng:

       “Ruộng ông hôm nay đă gặt chưa? Hơn mẫu này của tôi được gặt nhưng hơn mẫu ở đồng trong c̣n xanh. Có lẽ phải nửa tháng nữa. Ngồi đây nghỉ một tí đă!”

       Bác Ước gái, Cung, Cách và mấy đứa nhỏ nh́n thấy nhiêu Bổng đều chào. Trong khi nhiêu Bổng kiếm cách ngồi xuống cạnh bác Ước th́ Cung, Cách và mấy đứa nhỏ lội xuống ruộng. Cơm xong nghỉ khoảng mười lăm phút là làm việc trở lại, không công việc không xong.

       Đêm tháng năm chưa nằm đă sáng

       Ngày tháng mười những cười mà tối.

                                         (Ca dao)

       Người nông dân Việt Nam tham công tiếc việc, làm bao nhiêu cũng vẫn cho rằng chưa đủ bởi cuộc sống khó khăn nghèo nàn, nhiều gia đ́nh ăn bữa nay lo bữa mai, v́ vậy lúc nào họ cũng chăm chỉ làm việc và làm với tất cả sức lực và th́ giờ.

       Ai không muốn khá giả, giầu có, ruộng nhiều thóc lắm nhưng có phải ai cũng làm giầu được đâu! Một số đă giầu từ lâu do tổ tiên, ông bà, cha mẹ họ để lại, của đẻ ra của. Ruộng nương nhiều, họ mướn người làm trong nhà hoặc cho tá điền cấy rẽ, tùy theo vùng và sự thỏa thuận. Có thể là khoán trắng một số thúng thóc mỗi sào, mỗi mẫu tùy theo ruộng tốt xấu. Tá điền làm giỏi, chăm cháp ruộng lúa khiến số thu hoạch nhiều th́ tá điền được hưởng. Trái lại, ruộng thiếu nước, thiếu phân, bỏ cỏ mọc tràn hoặc những năm chuột bọ nhiều, hạn hán hay mưa lụt mùa màng thất bát th́ tá điền không có ăn. Nhiều vụ, số thóc thu hoạch chỉ vừa đủ đóng cho chủ ruộng, vợ chồng con cái đói meo, nhưng nếu không nạp, ruộng sẽ bị lấy lại không có chỗ làm mùa tới. Nhiều chủ ruộng tham lam, tàn ác đă lợi dụng những cơ hội này cho tá điền vay lại với số lăi cắt cổ. Đương nhiên nhà giầu càng ngày càng giầu và đám người nghèo càng ngày càng nghèo mạt. Một làng hoặc một tổng thường chỉ có dăm ba nhà có máu mặt c̣n hầu hết là nghèo túng, ấy là họ đă làm việc quần quật từ sáng đến  đêm khuya không mấy lúc được ngơi nghỉ.

       Nhiêu Bổng với cái điếu cày, mở cái hộp nhỏ đẽo bằng gỗ, tay cầm nhiều đă lên nước, vê điếu thuốc lào bỏ vào nơ điếu xong tay kia với cái đóm nứa và cái bùi nhùi rơm bện thổi ph́ phà cho lửa cháy lên, truyền vào đóm. Ông ta ưỡn người cho lưng ngả về phía sau, tay phải nâng cái điếu lên miệng tay trái đưa mồi lửa vào nơ, rít một hơi dài. Khi cái điếu rời miệng cũng là lúc ông ta thở phà ra một đám khói trắng cùng với tiếng “hà...hà...” sảng khoái từ cổ họng. Mắt lim dim nh́n trời xanh qua những kẽ lá đề đang lật qua lật lại reo vui trước gió,Nhiêu Bổng muốn ngồi thêm mấy phút dưới cái bóng râm mát dễ chịu của cây đề nhưng rồi ông ta đứng lên, đội nón lên đầu. Công việc bề bộn đang chờ nhiêu Bổng ở thửa ruộng gần đó không cho phép ông ta mất thêm th́ giờ. Vả lại, bác Ước cũng dợm đứng lên để xuống ruộng gặt tiếp. Ngày mùa, không ai dám bỏ phí th́ giờ dù là năm, ba phút.

       “Tôi trở lại ruộng. Ông làm nhé, ông Ước.”

Nhiêu Bổng vừa ngoái cổ chào bác Ước vừa đi ra phía sau con đường lớn.

       “Chào ông nhiêu.”

       Cùng lúc đó, Hương cũng đă sắp xếp hết bát đĩa, nồi niêu vào quang gánh để gánh về.

       “Con về thổi cơm tối đây bố.” Hương nói với theo bác Ước khi bác đă ở dưới ruộng, đang xăm xăm cầm hái đi về phía góc ruộng chưa gặt.

       “Ừ, hỏi mẹ mày xem tối có làm cái ǵ ăn không?”

       Hương nói hơi to v́ bác Ước đă cách một khoảng:

       “Mẹ dặn con rồi. Có miếng thịt lợn mẹ đă luộc hôm qua, có rau xào, có canh cải nấu trứng cáy.”

       “Nhớ mua hai cút rượu nhé!”

       “Dạ, con nhớ.”

       Hương thoăn thoắt trở ra con đường lớn để về nhà. Quang gánh bây giờ nhẹ hều nên nó đong đưa theo nhịp chân của cô.

 

(Mời đọc tiếp: “Kéo đá tối”)

Xuân Vũ  TRẦN Đ̀NH NGỌC