|
* Xuân Vũ TRẦN Đ̀NH NGỌC
LTS: Mỗi dân tộc
có một nền văn hóa riêng vẽ nên cái nét đặc thù của dân tộc đó. (1)
Mọi chuyện tôi sắp viết đây đă trôi vào quá khứ hơn nửa thế kỉ, nay viết ra cống hiến bạn đọc không ngoài mục đích để chúng ta nhớ lại quăng đời niên thiếu khi xưa mà tôi chắc có nhiều vị phần nào giống tôi bởi cái mẫu số chung của Bắc Việt là nông nghiệp, đa số nghèo, tay làm hàm nhai, nhiều khi không đủ để nuôi con. Tôi không sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu như nhà văn Vũ trọng Phụng, thèm cả miếng cơm vào lúc cuối cuộc đời v́ “được ăn cơm th́ sung sướng lắm.” Không phải dân giầu có mà chỉ đủ ăn, mát mặt, thầy mẹ tôi tận tụy suốt đời lo cho con cái mà tôi là con út trong mười một người con. Trước khi vào chuyện, tôi cũng xin tŕnh bày là những từ ngữ dùng trong thiên hồi kí này cũng như nhiều phong tục tập quán được tŕnh bày là xuất phát ở thời điểm đó ở quê tôi, cũng như nhiều miền quê khác ở Bắc Việt. Có những từ, những phong tục tập quán ngày nay không nói nữa, không thấy nữa hoặc nói cách khác, nhưng v́ trung thành với những sự việc đă xẩy ra, tôi mô tả đúng lại như thế, dù nghe có vẻ quê kệch, thô sơ. Trái đất chúng ta đang ở đă có 4 tỉ rưỡi năm - theo các nhà khoa học địa chất - dĩ nhiên trong mấy tỉ năm đầu, con người ăn hang ở lỗ, ăn sống nuốt tươi, lúc đầu chưa biết lấy lá mà che thân ḿnh. Rồi dần dần, hàng tỉ năm qua đi, con người mới biết dùng lửa thui súc vật làm thức ăn; cũng có thể sự hiểu biết ấy nảy sinh từ một đám cháy rừng, hươu nai chạy không kịp bị thui sống và tiền nhân chúng ta, v́ quá đói, ăn thử thấy ngon hơn thú tươi. Lửa bắt đầu được dùng từ đó. Và một điểm khác, hồi ức là hồi ức của người viết, tất nhiên tụ điểm sẽ từ người viết đi ra, người viết không làm sao khác được mặc dù chẳng muốn nói đến “cái tôi”. Những biến cố hay sự việc xẩy ra cũng được trung thành nhắc lại, cái chứng kiến đă đành, cái không chứng kiến mà chỉ được nghe từ các cụ già - người ruột thịt và người dưng - nhưng tác giả sẽ hết sức lột tả đúng được những ǵ đă nghe kể, dù điều ấy hay dở, tốt xấu thế nào và cho ai. Trở lại với việc dùng lửa, chỉ một việc mà ngày nay ta tưởng là cỏn con, nhưng tiền nhân chúng ta đă phải đi từ kinh nghiệm này tới kinh nghiệm khác, “thử làm” này đến “thử làm” khác, kéo ra cả tỉ năm mới biết được công dụng của lửa. Bởi thế những phong tục tập quán ông cha ta dùng, những tiếng nói địa phưuơng đă có mặt trên đất nước ta hàng ngh́n năm trước, nay đưọc sửa đổi cho văn vẻ hơn, quí cách hơn, lễ nghi hơn cũng là những điều b́nh thường như bất cứ điều nào trong tŕnh tự tiến hóa của nhân loại. Ra đời từ cái nôi là những lũy tre xanh bao bọc một ngôi làng nhỏ bên bờ con sông Ninh Cơ - một nhánh của sông Hồng - thuộc về một địa danh có tên là phủ Xuân Trường, tổng Trà lũ, làng Trà đoài, tôi được thầy tôi cho biết là ông bà, tổ tiên tôi đă đến lập nghiệp ở nơi đây từ cả trăm năm trước. Cuốn gia phả thầy tôi để lại đă cháy theo những ngôi nhà trong chiến tranh từ 1945, đă cháy theo những hi vọng mong manh của tôi là được sống một cuộc sống an b́nh từ thuở mới vào đời. Giả sử cuốn gia phả c̣n, may ra tôi có một ít khái niệm mơ hồ về ông bà nội tôi v́ các cụ đă sinh sống trong ngôi nhà và mảnh đất tôi được sinh ra. Nhưng bên trên ông bà nội, tôi thật chẳng có ư niệm ǵ, giả sử trong gia phả có để tên, như cụ cố Trần văn A, cụ cố Trần văn B v.v...tôi cũng chỉ đọc như ta đọc tiểu thuyết mà thôi. Từ rất lâu đời, từ thời các triều vua chúa khi xưa, nơi này thuộc về địa hạt tỉnh Nam định (trước kia c̣n gọi là Sơn Nam trấn) cho đến khoảng năm 1950, khi hai khu tự trị Bùi Chu và Phát Diệm được thành lập, một số phủ huyện được tách ra khỏi tỉnh Nam định để thành lập tỉnh Bùi Chu, ṭa tỉnh đặt ngay trong khuôn viên ṭa Giám mục Bùi chu mà vị Giám mục coi sóc địa phận là Giám mục Phạm ngọc Chi. Tôi lại xin mở một dấu ngoặc ở đây là nhớ đưọc đến đâu, viết đến đó, tôi chẳng có tư liệu ǵ ngoài bộ óc đă phai mờ theo năm tháng bởi những cuồng lũ của cuộc đời. Bởi thế, nếu những khía cạnh có tính cách lịch sử quan trọng cần phải thật đúng mà tôi đă trưng ra sai hoặc thiếu sót, xin quí bạn đọc vui ḷng bổ chính, tôi vô cùng thâm tạ. Tất nhiên có cái quên cái nhớ nhưng tựu trung, tôi muốn đưa ra được những h́nh ảnh trung thực thời thơ ấu nơi quê hương. Từ ngày qua Hoa kỳ năm 1975, tôi chưa về lại thăm quê hương nói chung, nơi đó có Sàig̣n thân thương, tôi đă sinh sống và lập nghiệp 21 năm, từ cuộc di cư vĩ đại của gần hai triệu người Bắc Việt sau Hiệp định Genève 20-7-1954. Tôi cũng chưa về thăm ngôi làng nhỏ bé cạnh bờ đê sông Ninh Cơ, nơi c̣n hai nấm mộ của thầy mẹ tôi mà nghe người làng và các chị, các cháu tôi tả trong thư th́ cảnh làng và tất cả xung quanh đă thay đổi rất nhiều. Dù vậy, khung cảnh miền quê tôi sắp tả đây là khung cảnh bất biến trong óc tôi, từ ngôi nhà thờ, tháp chuông, con đường kiệu xung quanh, cái hồ lớn để rửa chân trước khi vào nhà thờ những ngày mưa gió cho đến những cây cộ đèn cao nghệu được dựng lên mỗi khi có lễ lớn hoặc rước xách. Ngay cạnh nhà thờ là thổ đất lớn của nhà xứ, ông bà, thầy mẹ tôi cùng hầu hết giáo dân trong giáo xứ thời đó đă góp công, góp của xây một ngôi nhà lớn năm gian gỗ lim, lợp ngói, tường gạch dùng làm nhà cha xứ và một dẫy nhà phụ nằm kế nhau: nhà cho các thầy giáo, kho thóc gạo, nông phẩm, nhà để xay, giă gạo, pḥng cho người giúp việc, bếp núc và sau chót là chuồng lợn, chuồng gà. Lịch sử dựng một ngôi thánh đường khang trang trên một khu đất rộng vài mẫu là cả một cố gắng vượt mức của một giáo xứ chỉ hon trăm gia đ́nh từ lúc khởi đầu. Tôi không có hân hạnh sống trong thời gian đó nhưng chỉ nghe những ǵ thầy mẹ tôi kể lại những khi rỗi rảnh. Từng cây cột lim, từng cái kèo, cái xà, cái mè, cái rui, từng viên gạch, từng viên ngói đă thấm mồ hôi, có khi cả máu tay chân khi bị tai nạn đang lúc làm việc của nhiều người trước khi chúng được an vị trên kiến trúc. Tôi sẽ tả lại việc xây dựng nhà thờ Bắc Tỉnh, giáo xứ chúng tôi, ở một chương sau. Khu đất của nhà xứ khá rộng. Phía trước mặt ngôi nhà chính là một cái ao cỡ trung, phía sau bếp là một cái ao nữa rất lớn để nuôi cá, nhờ những trận mưa rào, nước đầy ắp suốt năm. Cái ao này cũng là chỗ để rửa ráy, giặt giũ, rửa chén bát. Đó là những ǵ sơ lược về ngôi nhà thờ và nhà xứ, nơi những gia đ́nh giáo dân trong xứ đạo sinh hoạt gần như hằng ngày, nhất là với những đứa trẻ như tôi chưa phải lo việc mưu sinh. Bên cạnh những sinh hoạt tôn giáo như đi đọc kinh, dâng lễ, học giáo lí v.v..., c̣n có một chuỗi sinh hoạt không liên quan đến nhà thờ: thí dụ đi học chữ, đi chợ, đi câu, đi chơi, đi bơi, tất nhiên phải nói đến những trung tâm điểm thu hút con người đến những nơi đó. Đây là những ngôi chợ trong tổng, chợ Trung, ở làng Trà Trung; chợ Bắc ở làng Trà Bắc, chợ Cầu ở kế giáo xứ Phú Nhai và gần nhà tôi, khoảng 1 cây số, có chợ Đông nhưng từ lâu, người ta không họp ở chợ Đông nữa. Cũng cần thêm không phải mở chợ ỏ đâu cũng có người tứ xứ đến họp. Nhiều ngôi chợ “cưới” nhiều lần nhưng chỉ được ít lâu là thưa dần v́ ngôi chợ đặt ở một nơi không thuận tiện cho việc đi lại, buôn bán. Khi cưới chợ, giới chức trong làng phải thông báo ngày và mời mọi người đến họp chợ. Những gian lều đă được dựng lên, khu nào ra khu ấy như khu ngũ cốc, khu gà vịt, khu trâu ḅ, khu nồi niêu, khu hàng thịt, khu tôm cá v.v...Những bạn hàng đến bày hàng ra bán hôm cưới chợ sẽ được ban tổ chức đưa thức ăn đến biếu như xôi gấc hay xôi đậu xanh, gị chả hoặc thịt lợn luộc để ăn với xôi hoặc vài thứ bánh tẻ, bánh nếp v.v... Đây là những con đường tráng xi măng đi từ làng nọ sang làng kia và nhất là ngôi trường tiểu học Pháp - Việt, nơi chốn tôi nhớ nhất, thương mến nhất đă giáo hóa, mở mang trí óc tôi, trong đó có những ông thầy nghiêm nghị, những bạn học dễ mến, những thú vui thuở học sinh nghịch ngợm, leo trèo... Thật ra, dăm bảy năm tiểu học trường làng chẳng cho tôi cái vốn hiểu biết khá nhưng nhờ đó, từ khi vào Nam năm 1954, lại trở lại đèn sách từ cuối năm 1956 với những lớp đêm, dù đă lập gia đ́nh, tôi cũng đă bước được những bước khá quan trọng trong việc mở mang trí tuệ và kiếm cho ḿnh một cái nghề ưa thích: nghề gơ đầu trẻ. Những người cùng trà cùng lứa với tôi, cũng có những người trẻ hơn tôi, cả trai cả gái, tới nay hầu như đă qua đời gần hết. Một cô bạn học cùng lớp những năm tiểu học, cô Ngô thị Kim Th., cách đây vài năm (2003) c̣n đang sống ở Hà nội. Người chồng cô là thi sĩ đối kháng Phùng C. đă qua đời cách đây mấy năm. Đọc báo, tôi biết thi phẩm của ông có được gửi ra hải ngoại in ấn, nhưng tôi không được đọc. Gọi là cô như hồi 9, 10 tuổi c̣n đi học với nhau chứ bây giờ cô cũng đă trên cái tuổi cổ lai hi rồi, giá có gặp lại, chắc không nh́n ra. Nhưng hồi c̣n mài đũng quần ở ngôi trường làng Trà Bắc, chúng tôi đâu có gọi nhau bằng cô, bằng cậu mà chỉ gọi bằng tên. Sở dĩ quen thân với nhau v́ trong lớp chỉ có hơn hai chục mạng, cô ngồi ngay bàn đầu, cạnh lối đi giữa, c̣n tôi bàn thứ hai, ngay sau lưng cô. Đến bây giờ tôi cũng chẳng hiểu v́ sao suốt mấy năm tiểu học trường làng đó, lớp nào năm nào tôi cũng được các thầy đặt làm trưởng lớp. Trưởng lớp hơi nhiều việc một tí có nghĩa là trưởng lớp phải giữ sổ điểm, ghi điểm, cộng điểm cuối tháng tŕnh thầy và mỗi buổi sáng, sau khi chào cờ vào lớp, phải điểm danh. Anh, chị nào có mặt th́ tôi có nhiệm vụ để chữ P (present) vào ô ngày đó; không có mặt th́ để chữ A (absent). Cuối tháng absent nhiều quá bị đuổi. Cuối năm cộng sổ lại không đủ điểm lên lớp: ở lại thêm một năm, tiếng Pháp gọi là “double” Có những anh tối tăm quá, double cả vài lần, rồi phải bỏ học.. Thực ra phải điểm cao, nhất hoặc nh́ hoài mới được làm trưởng lớp. Thầy mẹ tôi giao tôi cho anh rể và anh trai tôi, hơn tôi cả 12-20 tuổi và đă học khá, kèm cho tôi nên tôi học cũng không tệ. V́ ngày nào cũng điểm danh, suốt một năm ṛng và chỉ có khoảng hơn 20 tên đó, tôi nhắm mắt cũng gọi trúng từ đầu đến cuối. Đứng đầu là bốn cô gái mà tới giờ này tôi c̣n nhớ tên: Ngô thị Kim Th., Trần thị N., Mai thị D. Bùi thị V. Con trai hơn 20 đứa nên giờ này tôi chỉ c̣n nhớ lơm bơm. Sống đến giờ này, hiện tại cũng c̣n được vài anh tại quận Cam, Cali đều đă là những ông nội, ông ngoại con đàn, cháu đống. Trẻ em đến tuổi đi học trong mấy tổng lân cận th́ cả ngàn nhưng tại sao lại chỉ có khoảng hơn trăm được đến trường? Như tôi đă nói ở trên, tự cái nghèo mà ra. “Cái khó nó bó cái khôn”; hơn 80% dân Bắc Việt phải rất tần tiện mới đủ ăn, ấy là mưa thuận gió ḥa, mùa màng tươi tốt. Có nhiều gia đ́nh phải ăn độn ngô, khoai, sắn quanh năm; lúc gạo nhiều th́ ba phần gạo một phần khoai, sắn; lúc ít gạo, ba phần ngô, khoai sắn mới có một phần cơm. Thức ăn quanh năm là rau, dưa trồng ở vườn của mỗi nhà hoặc bờ ao, bờ sông những nơi có thể. Nhà nào có ao th́ mua cá giống thả, như cá mè, cá chép, cuối năm đánh lên ăn Tết. Những con sông tuy nhỏ nhưng lúc đó cá, tôm, tép cũng sẵn; dùng giậm, vó, nơm hay đặt lờ ban đêm cũng kiếm được cá cho gia đ́nh ăn nhưng toàn là cá, tôm, tép nhỏ chưa đủ cỡ phát triển. Chính v́ mạnh ai nấy bắt mà sau này, từ sau 1975, tại những con sông và ao hồ này, tôm cá hết sạch không c̣n một con. Khi đă túng thiếu như thế cha mẹ nào dám nghĩ đến cho con đi học? Ấy là chỉ nói con trai chứ con gái thời đó, không bao giờ dám mơ tưởng đến việc cắp sách đến trường. Bốn cô bạn cùng học với tôi kể trên là thuộc những gia đ́nh rất khá giả và có tinh thần trọng sự học. Cô Kim Th. là con gái lớn thầy giáo Lục, cũng dạy chúng tôi. Cô Trần thị Nh. là con út cụ bá hộ họ Trần, c̣n hai cô kia gia đ́nh có ruộng sâu trâu nái, kẻ ăn người làm rầm rập. Tổng số học sinh lớp tôi, cứ cho là 24-25 đi, th́ 4/24, con gái mới chỉ bằng 1/6 con trai. Cũng có một số gia đ́nh khá giả, dư sức cho con đi học nhưng cha mẹ, trước nhất không biết ích lợi của sự học, hai nữa họ tham công tiếc việc v́ nhà nông lúc nào cũng cần thêm người. Thằng con trai ở nhà chăn trâu, chăn ḅ, cắt cỏ cho trâu ḅ ăn, lại thỉnh thoảng đỡ những việc khác, với họ, vẫn hơn là cho nó đi học chẳng biết chữ nghĩa nó có hấp thụ được chút nào không nhưng trước mắt phải nuôi một thằng cu trâu, tốn cơm gạo cho nó ăn, một năm cũng phải trả công cho nó mươi lăm thùng thóc lại vài bộ quần áo mà đă chắc ǵ nó coi trâu, coi ḅ tốt hơn thằng con nhà ḿnh? Thôi chịu dốt một tí để cho thằng Tèo chăn trâu chắc ăn hơn. Cộng thêm với sự tính toán của cha mẹ, thằng Tèo nghe nói “phải” đi học th́ sợ dúm vó lại cho đến khi bố nó bảo:”Mày khỏi đi học, Tèo ạ!” nó mới mừng như bắt được vàng. T́nh trạng này không thấy ở dân thành phố. Các trường ở thành phố bao giờ cũng đông học sinh và hầu như 100% trẻ em thành phố đi học v́ cha mẹ biết ích lợi của sự học. Những thành phố như Hà Nội, Hải Pḥng, Hải Dương, Nam Định, Thái B́nh v.v... hồi đó không những chỉ học sinh địa phương mà c̣n có nhiều học sinh các nơi khác tới trọ học. Chỉ Hà Nội mới có trường Đại học Luật khoa, c̣n các trường trung học th́ hầu như thành phố nào cũng có, dạy học sinh hết bậc trung học và lấy xong hai bằng Tú tài. Trường tiẻu học Pháp - Việt Trà Bắc chúng tôi học, chỉ dạy đến hết lớp Nhất (cours Supérieur) tức lớp 5 bây giờ, xong đi thi lấy bằng C.E.P.C.I. (Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinois) mà người miền quê hay goi là bằng Xẹc-ti-fi-ca. Tuy nhiên, trước khi thi C.E.P.C.I., mấy cô cậu nhỏ hồi đó phải thi bằng Sơ học sau khi đă học xong các lớp Đồng ấu (Enfantin), Dự bị (Préparatoire) và lớp Ba (Élémentaire) tức các lớp 1, 2, và 3 bây giờ.
Xuân Vũ TRẦN Đ̀NH NGỌC
|