TRANG NHÀ VIỆT HẢI  BIÊN KHẢO  .  ĐIỂM SÁCH  .  SINH HOẠT VĂN NGHỆ  .  CỘNG ĐỒNG  .  TÙY BÚT  .  THƠ VĂN  .  TRUYỆN NGẮN  .  WEB SITE CỦA VIỆT HẢI  .  TRẦN CÔNG TỬ  .  LA  .  CALIFORNIA  .  USA                                                                                                                

 Về trang chính

 
Viễn Xứ magazine

 
Văn Đàn ĐồngTâm
 
 Cali Weekly Online
 
  
T
ake2tango.com

      Saigon Time
 

 ASIA

Asia-51:

Nhạc Vàng 30 Năm,
T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến


Tạ Ơn Anh "Người Thương Binh VNCH
 
Nhật Trường-Trần Thiện Thanh

Vinh Danh Nhật Trường Trần Thiện Thanh

Asia-52:
Huyền thoại
Lê Minh Bằng


 

                                       

Tiếng Việt  Tôi Yêu

Tác giả Trịnh Thanh Thủy của bài viết "Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài G̣n cũ" trong nhiều websites mà tôi có dịp đọc trước đây, đă ghi nhận sự đổi thay về cách xử dụng ngôn ngữ trong xă hội. Bà nhập đề bài viết bằng đọan văn:

 "Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng ǵ của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đă đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay c̣n được gọi là tiếng Việt Sài G̣n cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng th́ chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ c̣n t́m thấy trong tự điển, không c̣n ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành tŕnh di tản của ḿnh và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không c̣n tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nh́n tiếng Việt Sài G̣n cũ từ từ biến mất, ḷng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm ǵ được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể t́m ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường vơ bị Thủ Đức, v.v... Tất cả đă thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá."

Sau ngày 30-04-75 định mệnh, người dân thuộc phía miền Nam bên dưới vĩ tuyến 17 chúng ta đă đau đớn  nghe và đọc những từ ngữ lạ hoắc đến độ buồn nôn mà chúng ta đă nghe trong khó chịu như: đề xuất, đột xuất, phát hiện, bồi dưỡng, kiểm thảo, xử lư, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ảnh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, liên hệ, đăng kư, phục viên, liệt sỹ, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v...

Trong bài viết "Sống trong tiếng Việt" của nhà văn Đặng Tiến ghi nhận như sau:

« Tương quan giữa chính trị và ngôn ngữ, nhất định là có thật, nhưng không đơn giản. Trong đề tài này, mà phản ứng theo bản năng, t́nh cảm th́ lời nói làm cho người nói xa nhau, trong khi nhiệm vụ của ngôn ngữ là làm cho con người gần nhau.

Trong một cuộc gặp gỡ với nhân viên báo Nhân Dân do báo này thuật lại, ngày 11.3.1961, Hồ Chí Minh có nói "ta phải nói kí lô, v́ nếu nói cân th́ không đúng nghĩa 1000 gơ-ram". Ông chống lại thói lạm dụng chữ Hán, nên khuyên không nên dùng từ  phụ đạo  chỉ để nói là kèm trẻ em học thêm. Kết quả: người phía Nam không được ông giáo huấn, th́ nói kí lô và kèm trẻ; người phía Bắc, lập trường kiên định, lại dùng từ cân và phụ đạo.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cũng đặc biệt quan tâm đến việc giữ ǵn sự trong sáng của tiếng Việt (1963) nhận xét: khi nói trao đổi  th́ phải nói trao đổi cái ǵ, ư kiến, hàng hoá… chứ nói  trao đổi không khống, là vô nghĩa. Khi kết hôn, th́ nói kết hôn, thành hôn, xây dựng gia đ́nh, không nên nói "xây dựng" không khống, theo kiểu: "ngày mai tôi đến trao đổi với anh"; "cô ấy đă xây dựng năm ngoái"...

Người phương Nam mù mù tăm tăm, không dùng từ trao đổi, xây dựng như người phương Bắc được "quản lư" nghiêm túc. Chung quanh hôn nhân, người phương Bắc c̣n có lối nói: báo cáo, tuyên bố, đăng kư, tổ chức (dă chiến hay theo lối cũ, v.v…) ông thủ tướng nghe cũng phát ớn!

Nhân ngày giỗ Nguyễn Đ́nh Chiểu, năm 1963, Phạm Văn Đồng có viết bài ca ngợi nhà thơ, mở đầu bằng h́nh tượng bay bướm: trên trời có những v́ sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nh́n th́ mới thấy, và càng nh́n th́ càng thấy sáng. Một câu văn đẹp, và ông giáo sư Lê Trí Viễn đă cóp, làm tiêu đề cho một cuốn sách: Nguyễn Đ́nh Chiểu ngôi sao càng nh́n càng sáng (1982); Ư ông muốn thu câu văn cho gọn, thành sai cú pháp!

Để viết bài này, tôi phải đọc lại sách của Hoàng Tuệ: Vấn đề chuẩn ngôn ngữ qua lịch sử ngữ học, 1993, và được biết trên báo Pravda ngày 20.6.1950, Stalin đă có bài bác bỏ lư thuyết của Marr (1864-1934) cho rằng ngôn ngữ là một hiện tượng giai cấp.

Theo Stalin "ngôn ngữ là của toàn dân tộc; ngôn ngữ không phải là một hiện tượng giai cấp (…) V́ lẽ: ngôn ngữ là một dụng cụ giao tiếp xă hội, nó không phục vụ riêng một giai cấp nào, nó phục vụ tất cả các giai cấp, nó là của toàn thể dân tộc, của những kẻ bóc lột cũng như những người bị bóc lột, của chế độ cũ hấp hối cũng như của chế độ mới đang lên (tr. 141).

Ngôn ngữ và văn hoá là hai cái khác nhau (…) văn hoá có thể là tư sản hay xă hội chủ nghĩa (theo Lê-nin), c̣n ngôn ngữ, công cụ giao tiếp giữa người với người th́ luôn luôn là của chung cho cả dân tộc (tr. 143)."

Tôi ngờ ngợ, chả nhẽ Stalin lại viết một câu b́nh thường, phản động, phi giai cấp, phi mác xít lê-nin-nít như vậy? Hay là cụ Hoàng Tuệ "hư cấu"? Tôi rà lại th́ quả là cụ Stalin có viết như thế thật [] , và tôi đă nghi oan Hoàng Tuệ.

Tôi không tiếc công, v́ đă học được một bài học lớn. Ở đời ai cũng có chính kiến, thành kiến; đến khi lư luận th́ phải dè dặt, phải đề pḥng thành kiến của chính ḿnh. Về mặt trí thức, bản thân ḿnh là đối phương của chính ḿnh, một đối phương cực kỳ nguy hiểm v́ trường kỳ mai phục. Vượt qua thành kiến để thấy: ông Stalin cũng có thể nói đúng, ông thủ tướng có thể viết câu văn hay, ông giáo sư, nhà giáo nhân dân, có thể sử dụng sai cú pháp. Bản thân ḿnh có thể sai, v́ dốt, v́ vội, v́ giận hay v́ thiên kiến.

Bà Trịnh Thanh Thuỷ là người chân thật. Bà hỏi thật: "ḿnh có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi…". Là người đồng hội đồng thuyền, tôi đồng cảm với bà. Câu trả lời của tôi là: một mặt phải thường xuyên thay đổi lối viết, mặt khác dùng những từ nào mà ḿnh thấy là hay, là đúng, là hợp với câu văn. Nếu ông Phạm Quang Tuấn có hỏi dựa vào đâu mà bảo rằng từ này hay hơn từ kia, th́ trả lời cũng dễ thôi về mặt thực hành. Về lư thuyết ta có thể nói: một từ hay, khi có sự hài hoà giữa h́nh thức (cái biểu hiện, signifiant) với nội dung (cái được biểu hiện, signifié), giữa ngữ thái và ngữ nghĩa. Và tránh tạp âm v́ những từ đồng âm hay cận âm, tránh từ Hán Việt khệnh khạng, chuộng những ngữ âm thanh tao hay gợi cảm."

Chúng ta đều biết kẻ ăn cướp như CSVN thường tỏ thái độ siêu đẳng hơn người, thường khoe khoang, khoác lác, có thể xuất phát từ tâm lư mặc cảm tự ti và rồi chính họ mâu thuẩn ngay trong lời nói của họ, ví dụ Hồ Chí Minh luôn luôn đả phá việc dùng chữ Hán. Tên "Ái Quốc" mà âm hưởng vốn đă mang nguồn gốc Hán văn. Sao không đặt thẳng toạc móng heo ra là "Nguyễn Yêu Nước" th́ ông trung thành tuyệt đối với Việt ngữ? Trong báo "Lính Kách Mệnh" được xem là tiền thân của tờ Quân Đội Nhân Dân, người ta xem những bài văn của Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông ta đă vi phạm sự đả phá việc dùng từ ngữ xuất phát từ gốc Hán văn như: quốc tế vô sản, xuất khẩu, hữu nghị, tham quan, tranh thủ, khẩn trương, chỉ đạo,...

Trong bài trả lời về chủ đề "Văn Chương Không Biên Giới" trên website Da Màu, vị   thức giả Nguyễn Quốc Chánh đă đề cập về sự tham lam độc đoán của bọn CS sau khi "hiếp dâm" miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, 1975 qua nhận xét chua xót về ngôn ngữ tiếng Việt:

"Tiếng Việt có tới 3 lần mất trinh. Một lần với Tàu, một lần với Tây và hiện nay với CS. Cái vĩ đại của CS là vơ tất cả về ḿnh, từ sông núi, lịch sử, và dĩ nhiên, ngôn ngữ rồi làm cho nó tồi tệ đi. Cái ǵ họ kiểm soát được, cái đó c̣n trinh, cái ǵ không là đồi trụy hoặc lai căng. Tiếng Việt ở miền Bắc XHCN là trinh, tiếng Việt ở miền Nam trước 1975 là đồi trụy, và tiếng Việt ở trong nước hiện nay là thuần, c̣n tiếng Việt ở hải ngoại là lai căng… "

Kẻ chiến thắng đă xấc xược giương oai thị uy với toàn dân trên toàn lănh thổ đất nước bằng những Quyết nghị hành chánh để tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ của họ và buộc người dân trong xứ phải dùng. Đoạn văn ghi nhận sự kiện này là:

"Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đă thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là "tiếng Việt toàn dân". Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xă hội Việt Nam đă phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đă được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục."

Trong đời sống khi mà những áp bức về thể xác chúng ta cố nhịn nhục, cố đè nén, nhưng những áp bức về tinh thần như Nghị quyết 36 về sự trói buộc tôn giáo về quyền tự do tâm linh hay như cái  Nghị quyết ngày 01/07/183 để "tiếng Việt toàn dân" ra đời, khiến tâm tư chúng ta đau đớn khi nghe hoặc đọc những điều không vừa ư bị bó buộc phổ thông hóa trong nước, hoặc giả như khi tôi t́nh cờ nghe một số người lớn b́nh dân hay những người trẻ mới sang Mỹ dùng những từ ngữ của thuở ban sơ sau ngày nghiệt ngă 30-04-75 như: "Sau ngày giải phóng...." hay "Khi cách mạng vô...". Chúng ta không trách họ v́ tŕnh độ dân trí hoặc sự ư thức về chính trị yếu kém hay sự phân biệt về ngôn ngữ của họ rất thô sơ, bởi v́ chính họ là nạn nhân của chính sách ngu dân mà bọn CSVN gieo rắc trên quê hương. Và trong những phút riêng tư khi ḿnh đối đầu với ư nghĩ của chính ḿnh là những u uất, những xót xa, hoặc những ngậm ngùi của những tiếng Việt đẹp đẽ, của những tiếng Việt đáng yêu và trong sáng mà ḿnh muốn nghe, muốn đọc, để thèm được nghe, và thèm được thấy đă mai một, đă biến mất trên quê hương yêu dấu... Hay tôi ưu tư phải chăng v́ Tiếng Việt Tôi Yêu của Việt Nam Cộng Ḥa đă bị ép xác mất dần đi trên quê hương tôi? Buồn lắm thay.

Trần Việt Hải