Tìm hiểu về
Soạn giả Viễn Châu
Soạn giả Viễn Châu đã tạo ra một gia tài văn hóa
đặc thù rất phong phú của hơn 2.000 bài vọng cổ và 70 vở cải
lương... Trong đó tôi rất thích bài tình ca vọng cổ "Tình anh bán
chiếu", được nghệ sĩ Út Trà Ôn trình bày.
"Hò ơ...
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm.
Công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu.
Chiếu này tôi chẳng bán đâu.
Tìm em không gặp... Hò ơ...
Tìm em không gặp tôi gối đầu mỗi đêm...
1/ Ghe chiếu Cà Mau đã cấm sào trên bờ kinh ngã bảy, sao người con
gái năm xưa chẳng thấy ra chào... Cửa vườn cô đã khoá kín tự hôm
nào, tôi vác đôi chiếu bông từ dưới ghe lên xóm rẫy, chiếc áo
nhuộm bùn đã lấm tấm giọt mồ hôi. Nhà của cô sau trước vắng
tanh gió lạnh chiều hôm bỗng có ai dạo lên tiếng nguyệt cầm như
gieo vào lòng tôi một nỗi buồn thê thảm.
2/ Cô đã đặt đôi chiếu bông bề dài hai thước có lẽ để điểm tô ở
chốn loan phòng, hôm nay cô đã quên tôi để cất bước theo chồng. Cô
ơi đôi chiếu này tự tay tôi dệt lấy, tôi đã lựa từng cọng lát sợi
gai nhưng khi tôi đến nơi thì cô đã rời bỏ quê nhà sang qua xứ
khác, tôi đứng trước cổng vườn xưa nỗi buồn man mác, còn đôi chiếu
này tôi biết tặng cho ai?...
3/ Nhớ năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông ngã Bảy, cô đã tươi cười
dẫn tôi đến tận nhà cô; đưa tôi vào chốn phòng riêng để đo ni
chiếc giường gõ đỏ và cô đặt tôi làm đôi chiếu, cô hỏi qua gía cả,
tôi trả lời lấy giá rẻ làm quen .Năm hôm sau tôi sắp sửa lui ghe
cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng, sau khi cô đà quay gót chiếc
áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre, cô có biết đâu tôi
đã lấy nón lá che ngang để dấu đôi giòng nước mắt vì không muốn
bàng quan thiên hạ họ cười tôi là một kẻ si tình.
(nói lối)
Khi hỏi lại xóm riềng tôi mới biết
Cô theo chồng đã được bốn trăng qua.
Mình dám đâu sai hẹn với người ta
Mà họ đành đoạn bỏ nhà đi xứ khác
4/ Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như
thể xác không hồn... nước mắt tuôn rơi như lá rụng trên đường, gió
Đông vụt vù thổi mạnh lạnh đất trời lạnh đến cả tâm can.
Người ta đã có đôi rồi
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung,
Để mình vác cặp chiếu bông
Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ.
5/ Khuya đêm nay ngồi chờ nước lớn nỗi buồn đau cứ canh cánh bên
lòng... tôi thấy đời tôi sao lạnh lẽo khôn cùng... còn chi buồn
hơn nghề bán chiếu để tô điểm loan phòng cho những gái còn Xuân...
đến khi họ cất bước sang ngang lại không một lời hỏi han từ giã
đến đôi chiếu bông tôi đã bỏ công ngồi dệt mấy ngày đêm ròng rã mà
nay vẫn còn nằm trơ ở dưới khoan thuyền.
6/ Ngọn gió Đông ơi đừng thổi nữa lòng tôi lạnh lắm gió Đông ơi.
Tôi nhổ sào cho ghé chiếu trôi xuôi lòng nặng trĩu một nỗi sầu tê
tái, tôi ngồi yên sau lái đôi mắt vẫn hướng về nẻo cũ vườn xưa.
Hỡi ơi con sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngã thì lệ của tôi sao nó
cũng lai láng muôn giòng. Có ai biết được tấm lòng của tôi với cô
gái mỹ miều trên kinh Ngã Bảy
Sông sâu bên lở bên bồi Tình anh bán chiếu trọn đời không phai."
Đó là nguyên bài sáu câu tình ca nói lên một
chuyện tình buồn. Đại ý của bài vọng cổ này nói lên sự lãng mạn si
tình của anh bán chiếu. Khi người con gái đặt mua chiếu, rồi anh
bán chiếu đem lòng nhớ thương. Khi ghe đến ngã sông Phụng Hiệp,
nơi chia ra 7 nhánh sông con gọi là Ngã Bảy, cô đã tươi cười
dẫn anh đến tận nhà cô, cô đưa anh vào chốn phòng riêng để anh đo
ni chiếc giường gõ đỏ và đặt anh làm đôi chiếu. Cô hỏi qua giá cả
xong anh trả lời lấy giá rẻ để làm quen. Năm ngày sau khi anh sắp
sửa lui ghe cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng. Sau khi cô đã
quay gót chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre. Cô
biết đâu rằng anh đã lấy nón lá che ngang để che giấu đôi hàng
nước mắt chảy dài, và anh không muốn bàng dân thiên hạ chê cười vì
anh là gã trai si tình. Yêu một người con gái với trái tim thành
thật có xấu không? Rồi si tình người con gái mới quen đến độ sung
sướng để hàng lệ rơi có xấu không? Thưa không, nhưng nét đẹp của
văn hóa cổ xưa của đất nước chúng ta rất dễ thương vì nhà thơ Xuân
Diệu nhớ người tình cũng đã để nước mắt tuôn trào như sau:
"Nằm đêm anh cứ thương em
Rơi nghiêng nước mắt một bên gối nằm
Thế này cho hết trăm năm
Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em"
(bài "Nằm Đêm Anh Cứ Thương Em", XD)
Nguyễn Bính cũng âu sầu tương tư bóng hình người
láng giềng qua giậu mùng tơi, Hàn Mặc Tử nhớ Mai Đình để hàng lệ
rơi, những mối tình xưa trong văn học Việt Nam còn nhiều lắm, và
trong đó có "Tình anh bán chiếu" của soạn giả Viễn Châu. Cái đau
lòng của anh bán chiếu là khi năm sau anh trở lại chốn xưa thì hỡi
ơi cô khách hàng đã theo chồng. Cái đau cho cuộc tình một chiều là
ở sự kiện "tan nát tình anh". Lời ca của nghệ sĩ Út Trà Ôn làm cho
người nghe xót xa cho chàng bán chiếu đã ươm một mối tình quá oan
khiên qua mấy câu vọng cổ của soạn giả Viễn Châu.
Vậy soạn giả Viễn Châu là ai?
Tôi tham khảo sách "Ngũ Đại Gia của Sân khấu Cải
lương" do soạn giả Nguyễn Phương biên soạn, Trường Kỳ phát hành
cùng với tài liệu của nhà văn Ba Bé cung cấp như sau:
Huỳnh Trí Bá là tên thật của nhạc sĩ Bảy Bá, tức
soạn giả Viễn Châu. Vì sinh trưởng trong gia đình có 7 người con,
ma ông là thứ 7 nên bạn bè trong xóm gọi tên tục thân thiện là
"Bảy Bá". Ông sinh năm 1924 trong một gia đình gia giáo nho
học tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi còn học ở
trường, ông đã mê đờn ca, cả tân lẫn cổ, thường có mặt trong các
buổi đờn ca tài tử, hoặc cùng bạn bè tổ chức đờn ca. Sự hiểu biết
về bài bản cải lương là do ông học lóm chương trình ca cổ nhạc ở
các dĩa nhựa và đài phát thanh, ngoài ra, ông được dịp làm quen,
học hỏi nhiều về đờn ca với nghệ sĩ ở đoàn hát thời xưa như Văn Võ
hí ban, bầu Lúa, bầu Phục, bầu Hùng mỗi khi đến địa phương lưu
diễn. Bảy Bá có khiếu viết văn , làm thơ và ham mê âm nhạc, năm
ông 15 tuổi ông tỏ ra xuất chúng về môn đàn tranh. Đến năm 19
tuổi, ông đàn thạo các loại đàn tranh, violon, guitar và được
nhiều người khen ngợi. Ham vui, ông bỏ nhà lên Sài Gòn tìm đến các
ban nhạc lừng danh lúc bấy giờ. Nhờ tài hoa nên ông có mặt trong
một dàn nhạc cùng với rất nhiều nhạc sĩ tài danh lúc đó như Jean
Tịnh (violon), Bảy Hàm (đàn cò), Hai Biểu (tranh), Chín Hòa
(kìm)..., là một ban cổ nhạc có tiếng ở đài phát thanh bấy giờ,
đàn cho các danh ca lúc đó như: Cô Năm Cần Thơ, Ngọc Nữ, Ba Vĩnh
Long, Tư Bé,... Cái tên Bảy Bá được nổi danh từ lúc đó.
Một kỷ niệm đáng nhớ của nhạc sĩ Bảy Bá trong
những năm đầu mới vào nghề là ông thường lui tới những nơi có đờn
ca tài tử và quen biết với nhạc sĩ Mười Còn, lúc đó đang đờn cho
đoàn Việt kịch Năm Châu. Bất ngờ, trước chuyến lưu diễn ra Hà Nội,
nhạc sĩ đàn tranh của đoàn bị bệnh, ông dược dịp thế chân. Trước
khả năng đó nhạc sĩ Mười Còn thuyết phục Bảy Bá theo đoàn đi lưu
diễn suốt hai tháng rưỡi... nhưng khi vừa về tới Sài Gòn thì một
người anh của ông là Huỳnh Thanh Tòng bắt ông về quê, không cho
theo đoàn hát nữa. Sau khi cha mẹ mất, ông rời những thân nhân
cùng cuộc đời ruộng rẫy nghèo khổ để bắt đầu cuộc phiêu lưu mới
vào phạm trù âm nhạc. Ông quyết định trở lên thủ đô,
tại Saigòn thì ông ở trọ nhà một người bạn cũng nghèo. Nghệ sĩ Bảy
Bá phải mưu sinh bằng nghề đi đờn đám, như các đám cưới, đám hỏi,
liên hoan, sinh nhật…Nhiều khi đi về quá khuya, mà cửa nhà đã
đóng then cài thì ông không dám kêu cửa vì sợ phá giấc ngủ của
người bạn, nên ông kê cây đờn làm gối ngủ phê một giấc cho tới
sáng hôm sau ngay ở ngoài hàng ba nhà trọ. Đó là nỗi đam mê yêu
nghệ thuật, và chính nó đã khiến nhạc sĩ Viễn Châu gặp nhiều lận
đận, rồi cuộc đời chấp nhận sống lang thang, bụi đời trong giai
đoạn đầu khởi nghiệp. Năm 1943, nghệ sĩ Bảy Bá tham gia vào đoàn
Việt Kịch Năm Châu và lưu diễn khắp mọi miền đất nước, và được bậc
thầy của sân khấu cải lương là ông Năm Châu đã tận tình nâng đỡ về
nghề nghiệp. Lúc này thì soạn giả Viễn Châu bắt đầu tập viết
tuồng vào những năm cuối cùng của thập niên 40, với vở đầu tay tựa
đề Nát Cánh Hoa Rừng, cảm tác từ chuyện đường rừng của nhà văn
Khái Hưng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Soạn phẩm này đã thành công
trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu, mở đường cho những thành công
liên tiếp sau đó. Ông đã đ ược nhiều người mến mộ.
Phải nói là trên bước đường nghề nghiệp, Bảy Bá
được các nghệ sĩ đàn anh tận tình giúp đỡ, như đã nói trong đó
có vợ chồng nghệ sĩ Năm Châu và Kim Cúc là phần chính. Nhưng
với bản thân ông, ông mang một nỗi niềm đam mê dào dạt bộ môn cải
lương, một tâm hồn xao xuyến đa cảm và một khả năng sáng tác dồi
dào đã đưa ông đến hết thành công này đến thành công khác. Vì
trong khoảng thời gian hơn 60 năm mang kiếp nghệ sĩ cổ nhạc, sự
nghiệp sáng tác của ông đã có hơn 70 vở tuồng và hơn 2.000 bản
vọng cổ. Một gia tài quá lớn mà ông dể lại cho nền âm nhạc Việt
Nam. Những khía cạnh đáng nhớ về soạn giả Viễn Châu:
Vọng Cổ Hài Hước:
Ông là người tạo ra hệ phái vọng cổ hài hước mà sau này nhiều
gương mặt nổi danh nhờ những bài ca vui, dí dỏm như nghệ sĩ Văn
Hường, Hề Sa,... Sáng kiến này tạo sự mới mẻ và gây tiếng vang lớn
về phạm vi vọng cổ hài hước, nhạc ông đã đưa Văn Hường trở thành
một ca sĩ vọng cổ hài hước duyên dáng và độc đáo. Đến nay nhiều
người còn nhớ những bài: "Tôi đi làm rể", "Ba chàng rể quý", "Tư
Ếch đi Sài Gòn", "Vợ tôi tôi sợ", "Văn Hường nể vợ", "Tâm sự Văn
Hường", "Vợ tôi nói tiếng Tây",...
Tân Cổ Giao Duyên:
Từ năm 1964, ông mạnh dạn làm một cuộc cách mạng
bằng một cuộc giao duyên giữa nhạc tân và nhạc cổ. Bản đầu tiên
"Chàng là ai?" (Tân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết), bản nhạc
này do nữ nghệ sĩ Lệ Thủy ca. Dù lúc đó có một số ý kiến chống
báng, không đồng tình với sự giao duyên tân cổ nhạc này. Nhưng
càng về sau quần chúng đã nồng nhiệt chấp nhận những tác phẩm của
ông, nên các hãng đĩa thay nhau ký hợp đồng mời soạn giả Viễn Châu
cộng tác. Một số đoàn hát lúc đó cũng theo loại nhạc ghép tân cổ
giao duyên và thêm vào đôi hai giọng ca tân nhạc và vọng cổ.
Thời gian trôi qua vọng cổ đã thăng hoa, các danh ca được người
xem ưa thích nhờ làn hơi "mùi", mượt mà, nhưng nội dung bản vọng
cổ cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho người nghệ sĩ
thể hiện giọng ca của mình. Soạn giả Viễn Châu được mệnh danh là
"người tạo danh cho các nghệ sĩ", bởi qua nhiều sáng tác của ông,
nhiều nghệ sĩ khi thể hiện đã được cái ưa thích để đông đảo người
xem chú ý hơn, ví dụ như: Mỹ Châu với bài "Hòn vọng phu", Tấn Tài
với "Mùa xuân của mẹ", Út Trà Ôn với "Tình anh bán chiếu", Bạch
Tuyết với "Hai sắc hoa Ti-gôn", Thanh Nga với "Nguyệt Kiểu xuất
gia" và "Hai lối mộng",...
Vở Tuồng Cải Lương:
Trong liên tiếp nhiều thập niên kể từ cuối thập
niên 1940, soạn giả Viễn Châu đã sáng chói trên vòm trời nghệ
thuật sân khấu cải lương, ông thành công với khoảng 70 vở tuồng
được xem là ăn khách hàng đầu, như Sau Bức Màn Nhung, Đời Cô Nga,
Hoa Mộc Lan, Hàn Mạc Tử, Nợ Tình, Qua Cơn Ác Mộng…
Tóm lại, tên tuổi của soạn giả Viễn Châu đã thật
sự thành công vượt bực trong ngành cổ nhạc. Như trên đã trình bày
ông viết nhiều tuồng cãi lương, những bản vọng cổ ăn khách nhất
với lời văn mượt mà, bay bướm, nhẹ nhàng đầy chất thơ nhạc, nhiều
tác phẩm của ông gợi lại hình ảnh nông thôn lam lũ và bình dị, để
châm biếm những cảnh trái tai, gai mắt trong xã hội muôn mặt, hay
để hoài niệm về một thời dĩ vãng, bày tỏ tâm sự của những tâm hồn
đa cảm và những mối tình dang dở. Người ái mộ ông chưa hẳn là
thích cốt chuyện tình tiết éo le, nhưng vì những tuồng tích quen
thuộc đó được ông đệm vào bằng những lời ca văn chương trau chuốt,
mượt mà và rất trữ tình. Do đó nếu so sánh giữa những bài ca vọng
cổ đơn chiếc và những vỏ tuồng cải lương dài thì vì tài viết văn
ghép vào nhạc của ông quá xuất sắc hay quá điêu luyện, nên ông
được nhiều bình luận gia về cổ nhạc cho rằng ông đã vượt trội về
tên tuổi trong các tác phẩm vọng cổ hơn là soạn giả của những vở
tuồng dài cải lương. Lời nhận xét này cũng là lời kết luận của bài
viết này vậy.
Việt Hải, Los Angeles