TRANG
LỊCH SỬ



THÁNG BA NĂM ĐÓI

 Xuân Vũ Trần Đ́nh Ngọc


Đúng 60 năm trước đây, 3-1945 – 3-2005, nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu làm gần 2 triệu đồng bào miền Bắc và Bắc Trung việt tức tưởi ngă xuống như ngả rạ. Nhiều sử sách qui trách nhiệm làm chết gần 2 triệu người dân Bắc Việt cho Pháp thực dân và Nhật quân phiệt đă thu mua, tích trữ, thậm chí dùng thóc lúa đốt thành than chạy đầu máy xe hỏa, cũng như bắt dân ta bỏ lúa trồng đay.

Những điều đó đều đúng nhưng tác giả chuyện kí này thêm rằng, trách
nhiệm c̣n thuộc về vua Bảo Đại, lúc đó đang là hoàng đế Việt Nam, cai trị và đại diện người Việt Nam trước Pháp thực dân và quân phiệt Nhật.

      Hoàng đế Bảo Đại không hề lên tiếng để ngăn chận âm mưu độc ác này của Pháp và Nhật cũng như t́m cách cứu đói khi hàng trăm cái kho chứa đầy gạo ở Hải pḥng, Hà nội bị khóa kín, gạo thối rữa thành những đống phân...mà chính tác giả nh́n tận mắt. Cả sau trận đói, hoàng đế Bảo đại cũng không hề có một lời thương cảm thần dân bị chết oan của ông!

      Tưởng cũng nên thêm chút tư liệu về đói để bạn đọc tường lăm. NguyệtSan Readers’ Digest trong năm 2003 có đăng:”Trên thế giới đă có 57 triệu người chết đói, trong có 10.5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Chỉ trong năm 2003, Nigeria (Châu Phi) mất mùa, nạn đói giết 150,000 trẻ em (không thấy nói người lớn). Cứ 1 phút, trên thế giới có 23 đứa trẻ chết v́ đói và mỗi ngày, hàng trăm triệu trẻ em đi ngủ với bụng đói.

      Nạn đói ở Bắc Việt năm 1945 là do hậu quả chính sách dă man của thực dân Pháp, lệnh bỏ lúa trồng đay của quân phiệt Nhật và chính phủ bù nh́n, vô trách nhiệm của vua Bảo Đại.

  • Xuân Vũ TRẦN Đ̀NH NGỌC
     

TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN

Ba nước Đức, Ư, Nhật đă thành lập Phe Trục từ 1939 v́ họ muốn bá chủ thế giới.

      Đức, Ư với hai ông trùm Hitler và Mussolini xâm chiếm Âu châu. Nhật bản được giao vùng Đông Nam Á châu, Nhật muốn bành trướng chủ trương Đại Đông Á do Nhật lănh đạo.

      Từ năm 1940, quân đội Nhật đă chiếm Đông Dương. Lẽ ra, động đến lănh địa của Pháp, Pháp phải quyết liệt bảo vệ v́ danh dự, v́ quyền lợi “mẫu quốc” trên mảnh đất thuộc địa Pháp đă làm chủ gần 80 năm. Nhưng vừa đụng độ, Pháp đă bị thiệt hại trước quân đội Nhật kiêu dũng. Sau đó Pháp đầu hàng sớm v́ khiếp nhược không dám chống chơi với quân đội Nhật. Nếu quyết chống cự, có thể Pháp vẫn thất bại nhưng là thua trong danh dự, không bị Nhật khi dể, coi thường như một thằng con nít.

      Các thành phố lớn đầy dẫy quân đội Nhật. Nhật muốn ở ṭa nhà nào, muốn đóng trại nơi đâu tùy ư, Pháp trong ḷng đau khổ nhưng bên ngoài một mực tuân theo v́ sợ chết, không dám hó hé.

      Tôi c̣n nhớ đă mấy lần ở Hà nội, ngay bờ hồ Hoàn Kiếm và có lúa ở ga Hàng Cỏ, tôi đứng chứng kiến vài sĩ quan Nhật đánh sĩ quan Pháp đổ máu mồm máu mũi v́ có chuyện gây lộn với nhau sao đó. Có lần tôi thấy một sĩ quan Nhật rút trường kiếm đeo bên hông chém sả vai một sĩ quan Pháp ngay ở hông nhà hát lớn Hải pḥng. Phía Pháp có năm, bảy người; phía Nhật ít hơn, chỉ có hai, ba nhưng bọn Pháp chịu nhục, bảo nhau kéo nhau đi sau khi đă băng bó cho đồng đội trước sự chứng kiến của dân chúng trong phố.

      Những sự đụng chạm như vậy, trong vài năm đầu Nhật tới, xẩy ra thường xuyên và hầu như lần nào Pháp cũng thảm bại. Đau khổ nhất là Pháp chịu sự nhục nhă với dân bị trị, dân Việt, trước đây Pháp vẫn bắt nạt, trên chân, hống hách. Khi nào có những chuyện lớn xẩy ra, sĩ quan Nhật thường dùng vô tuyến gọi cho đồng đội đến trợ lực. Vô tuyến điện thoại lúc đó ở Hải pḥng, Hà nội là những máy móc tuyệt hảo, người dân chỉ đứng mà trầm trồ đâu có như ngày nay, chỉ sau hơn nửa thế kỉ, hầu như ở thành phố ai cũng có cell phone.

      Ở ngay nước “đại” Pháp, Đức xua quân tới chiếm đóng. Đức chiếm Paris ngày 14-6-1940 cũng không khó khăn hơn Nhật chiếm Quảng đông thuộc Trung hoa thời gian đó.

      Hồi đó phi cơ Mỹ đến các thành phố Việt Nam có quân Nhật trú đóng dội bom hàng ngày, có khi máy bay Mỹ cả trăm chiếc bay rợp trời và oanh tạc khủng khiếp lắm. Pḥng không Nhật bắn lên bằng súng cao xạ - lúc dó gọi thế - thỉnh thoảng phi cơ Mỹ cũng rớt.

      Hà nội, Hải pḥng, Nam định, Thái b́nh, Hà nam, Phủ lư... khu phố nào cũng phải đào hầm hố tránh bom. Khi nghe c̣i hụ của thành phố là phải chạy ra “tranché” tức hầm trú ẩn có ngày năm, bảy lần, hết cả làm ăn, buôn bán. Đó là những hầm trú ẩn công cộng.Có nhiều nhà, ngay trong những căn phố diện tích ở rất hẹp nhưng cũng hi sinh đào hầm tránh bom, vừa đỡ thời gian di chuyển, vừa bớt nguy hiểm. Cái hầm chỉ 1m2, sâu hơn đầu người, có lối thoải thoải đi xuống, trên đặt những thân cây lớn nắm ngang, lấp đất hoặc gạch lên trên là có thể đủ cho 10 người xuống trú ẩn. Khi c̣i hụ lâu quá, có nghĩa nguy hiểm vẫn ŕnh rập, người ta mang cả cơm, bánh xuống hầm ăn cho được việc.

      Được cái phi cơ Mỹ ít bỏ bom vào khu dân cư mà chỉ t́m đánh những trại binh, đoàn quân xa hoặc phi trường có máy bay Nhật. Sau này, Mỹ cũng đánh phá những chuyến xe lửa chở than Ḥn gai về Hà nội, Hải pḥng tiếp tế cho Nhật. Nhật dùng than để chạy máy tầu xe lửa, kéo các toa chở quân nhu, quân cụ, binh lương. Mỹ biết thế nên oanh tạc mỏ than Ḥn gai và các chuyến xe lửa chở than ra. Từ đó, Nhật phạm vào một tội ác không thể tha thứ: lấy thóc đă tích trữ được của dân quê Việt đem đốt thành than để chạy đầu máy xe lửa! Đó là một trong những nguyên nhân chính đưa đến nạn đói tháng Ba năm Ất Dậu (khoảng tháng 4-1945). 

      Trở lại vụ máy bay Mỹ đến bắn phá, cũng có khi khu trục cơ Nhật lên nghinh chiến, hai bên quần thảo, bắn nhau trên bầu trời, tiếng rú của máy bay nghe xé màng tai. Những loạt đại liên từ máy bay bắn xuống thường gây tử vong cho những người đi đường chưa kịp núp tránh.

      Sau mỗi trận oanh tạc, thế nào cũng có thiệt hại nhân mạng và vật chất. Những cơ sở lớn và những trại binh luôn luôn là mục tiêu của phi cơ Mỹ.

Tham vọng của Nhật rất lớn nên Nhật t́m mọi cách khống chế Đông Dương, lúc đó đang trong tay người Pháp. Kỹ nghệ phục vụ chiến tranh của Nhật không đủ sức cung cấp nếu chỉ dùng những phương tiện tại chính quốc. Quân đội Nhật, ở cao điểm lên tới cả trăm ngàn, đi tới đâu là lợi dụng lương thực, phẩm vật, ngay cả lao công Nhật cần để phong phú hoá nguồn tiếp liệu. Nhật chủ trương “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” nghĩa là Nhật khoán trắng cho người dân Đông Dương phải nuôi quân Nhật, phải cung cấp mọi thứ cần dùng. Nhật cũng đưa tiền Nhật vào tiêu, bắt người dân phải nhận đồng bạc Nhật. Người dân thế cô đành phải chịu v́ lúc đó nhà băng c̣n rất hiếm, với một số tiền nhỏ nhoi, làm sao mang đi đổi? Vả lại, ngân hàng trong tay người Pháp, Pháp không chịu đổi ra tiền Đông dương cho th́ cũng huề. Đă có một số thương gia làm ăn với quân đội Nhật bị thất bát như thế nhưng biét di đâu mà thưa kiện. Cái binh đoàn ḿnh làm ăn, buôn bán với th́ nó đă di chuyển đi mất tăm mất tích, ngôn ngữ bất đồng, đành phải chịu mất tiền toi, ôm mớ bạc Nhật ngồi khóc dù khi làm giao kèo cung cấp th́ ấn định bằng tiền Đông Dương đang lưu hành. Tôi đă nghe người ta kể chuyện một thương gia ờ Hà nội nhận cung cấp hạt tiêu nguyên hạt và hạt tiêu đă xay, ớt khô, đường cũng như vài thứ hương liệu khác cho quân đội Nhật. Số tiền khoảng vài chục ngàn Đông Dương nhưng khi giao hàng và cả tuần lễ sau mới nhận được tiền th́ lại là tiền Nhật. Người bán không chịu nhưng sĩ quan Nhật cứ bỏ tiền lại ra về.

      Bà thương gia Việt bèn đến trại binh nơi bà đă kí giấy tờ cung cấp xin gặp ông Tướng Tư Lệnh nhưng bà ngồi ở căn pḥng tiếp khách ở cổng vào từ sáng tới tối, mấy ngày liền như thế mà không gặp được ông tướng để khiếu nại, cũng không ai giải quyết cho bà. Cuối cùng bà phải chịu thua ra về. Có một sĩ quan Nhật nhờ thông dịch viên cho bà hay rằng, tiền đó cứ ra Ngân hàng Đông Pháp là đổi ra tiền Đông Dương được. Nhưng khi bà tới nhà băng, người ta bảo chưa có lệnh cho đổi tiền Nhật lấy tiền Đông Dương.

      Có lẽ không ít người bị cái nạn đó v́ tưởng làm ăn với Nhật th́ sẽ kiếm đưọc chút lời cũng như một số người ḿnh thường nghĩ làm ăn với người ngoại quốc kiếm tiền dễ hơn. 

      Lúc đó quân đội Nhật dùng rất nhiều vỏ đay, gai trong việc chế biến các túi, vơng, lưới để chuyển vận các chiến cụ nên Nhật đă ra lệnh nông dân Bắc Việt bỏ lúa trồng đay.

 Khi thu được vỏ đay, đại diên của Chính phủ Nhật về nông thôn cân đay, trả tiền nhưng trả giá rất thấp, không đủ cơm công. Chính bởi kế sách bỏ lúa trồng đay của Nhật, nơi nào c̣n trồng lúa th́ bị mất mùa, miền Bắc đă thiếu gạo trầm trọng cho đến đầu năm 1945, năm Ất Dậu, cả miền Bắc nhao lên v́ đói.

      Có những nhà c̣n tiền, c̣n vàng nhưng không t́m đâu ra thóc, ra gạo mà mua. Ngay khoai lang, khoai môn, sắn nùng nai (khoai ḿ) cũng không c̣n. Nhà nào c̣n năm, ba thùng thóc th́ canh như canh mả tổ, ăn cầm hơi bằng những bữa cháo, chờ một phép lạ xẩy đến.

      Ngày 7-12-1941, không quân Nhật tàn sát căn cứ quân sự Hoa kỳ tại Trân châu cảng làm hơn ngàn binh sĩ Mỹ tử thương, cả chục khu trục và hộ tống hạm, rất nhiều máy bay bị thiêu hủy, một thảm bại nặng nề khiến Mỹ phải tuyên chiến với Nhật. Nhưng trước đó, Nhật đă ép Chính phủ Pétain, Pháp phải kí một Hiệp ước cho Nhật được quyền đóng quân từ ải Nam quan đến mũi Cà mau. Năm 1940, khi Nhật mới đặt chân vào Việt Nam, Nhật chỉ có 6,000 quân. Hiệp ước này tăng cho Nhật thành 35,000 quân (đó chỉ là con số trên giấy tờ, thực sự có thể nhiều hơn).

      Ngoài ra, để kềm chế Pháp, Nhật cũng đặt một vị Đại sứ Nhật bên cạnh Toàn Quyền Đông Dương, ông Yoshizawa, mà từ trước chưa bao giờ có. Mặc nhiên, dân Việt có hai kẻ đô hộ cùng lúc: Pháp và Nhật, khác nào một cổ đôi tṛng.

      Nhật cũng ép Pháp phải kí một thỏa ước thương mại với Nhật, ngoài những ưu tiên Nhật được khai thác như mỏ than, thủy điện v.v...Pháp c̣n phải cung cấp cho Nhật:

Năm 1941 700,000 tấn gạo Pháp chỉ giao được 585,000T

1942 1,050,000T “ 973,908T

      1943 1,125,000T “ 1,023,470T

1944 900,000 T “ 500,000T

      Cộng chung, số gạo Pháp giao cho Nhật là 3,081,378T

Để có hơn 3 triệu tấn gạo này, nông dân Việt phải sản xuất hơn 6 triệu tấn thóc, chưa kể thóc ăn để làm mùa và làm giống, tức phải có trên 10 triệu tấn thóc trong 4 năm. Với một số dân nhỏ nhoi lúc đó, nông cụ thô sơ, làm thế nào để có được số thóc như Nhật và Pháp qui định cho khỏi tù tội, tịch biên gia sản? Nông dân miền Bắc chết đói là lẽ đương nhiên. Gia đ́nh nào có 40 tạ thóc chẳng hạn, phải bán cho Pháp 30 tạ tức ¾ số thu hoạch, nếu không đủ phải mua ngoài để bù vào, với giá 200 đồng/tạ trong khi Pháp chỉ trả 25đ/tạ.

      Về giá cả, do áp lực của Nhật và cũng do Pháp thiếu tiền để mua v́ Nhật bắt cung cấp “chùa” mà không trả tiền, Pháp đă ép giá nông dân Việt cả về gạo, thóc và đay gai.

      Giá thị trường lúc đó khoảng 200 đồng Đông Dương một tạ (100kg) thóc; như trên đă nói, Pháp chỉ trả nông dân ta 25 đồng trong khi giá vốn đă 80 đồng.

      Sưu cao thuế nặng, dân Việt è cổ ra đóng cho Pháp, Pháp lấy tiền đó mua gạo hối lộ cho Nhật để được yên thân. Khi Nhật chưa đến Đông Dương (1939), Việt Nam chỉ đóng 44,308,000 đồng tiền các thứ thuế; đến năm 1944 thuế tăng hơn gấp đôi: 98,072,000 đồng.

      Dù vậy, Pháp vẫn phải in thêm tiền Đông Dương để cung ứng cho các nhu cầu của quân đội Nhật. In thêm tiền có nghĩa lạm phát. Năm 1943, số tiền lưu hành là 723 triệu, gấp 7 lần Ngân sách Đông dương 4 năm trước đó và đến 1944 lên đến 1 tỉ 52 triệu đồng. V́ vậy vật giá tăng cao, người dân Việt sống trong thời ḱ gạo châu, củi quế. Người dân quê lúc đó có câu đồng dao:

      Ba đồng, gạo tẻ một thưng

      Mẹ con chết đói v́ chưng không tiền.

      Lạm phát, tiền nhiều trong tay thực dân và quân phiệt, đâu có đến tay nông dân nghèo khó Việt nên chỉ 3 đồng một thưng, một đấu gạo mà mẹ con vẫn chết đói.

      Ngoài gạo, Nhật cũng đ̣i Pháp phải cung cấp ngô (bắp) để nuôi ngựa, lừa Nhật dùng để thồ chiến cụ.

      Năm 1942: Pháp giao 124,923 tấn ngô; 1943: 98,700 tấn; 1944: 18263 tấn; đầu năm 1945: 12,134 tấn.

      Theo tài liệu của Toàn quyền Decoux, làng Thượng Cẩm, huyện Thái Ninh, Thái B́nh có 4000 người chết c̣n 2,000, trong đó có 900 suất đinh (trai tráng) chết c̣n 400. Sau tết Ất Dậu, có ngày 20,000 người chết trong lúc đó, lừa ngựa Nhật vẫn được no đủ.

      Cũng theo tài liệu của Toàn quyền Decoux:

      tỉnh Thái B́nh dân số 700,200 chết 260,000

Vựa thóc Nam Định 680,000 “ 229,650

      tỉnh Ninh B́nh 200,000 “ 37,936

      tỉnh Hà Nam 400,000 “ 50,383

Văn pḥng Toàn quyền Decoux tổng kết 1 triệu người Bắc Việt chết đói nhưng con số thực phải cao hơn nhiều.

      Cũng nói thêm, vừa phần trong Nam không có chương tŕnh cứu đói ngoài Bắc v́ Pháp, Nhật lơ là đă đành, Chính phủ Nam triều do vua Bảo Đại cầm đầu cũng để mặc dân chết đói. Hai triệu người chết, không lẽ hoàng đế đang nắm quyền cai trị không biết. Cho dù ông ở Huế, quan Khâm sai đại thần, quan Tổng trấn Bắc kỳ lại không báo cáo hằng ngày cho ông thảm cảnh người chết đói la liệt ở Hà nội, Hải pḥng, Nam định, Thái b́nh, Hà Nam, Phủ lư và ở mọi vùng thôn quê trên đất Bắc và Bắc Trung Việt như Thanh hóa, Nghệ an, Hà tĩnh vv... Nếu ông không biết, ông đắc tội với Dân tộc, nếu ông biêt mà ngồi nh́n cho thần dân của ông chết đói, ông vừa là một ông vua bù nh́n vừa đắc tội với thần dân của ông. 

(c̣n tiếp)

 

Các bài đă đăng:
-
Tháng ba năm đói
Nov/11/06
-Xứ Quảng và xứ Tây Sơn - giữa đại vùng văn hóa ven biển miền Trung Sep/11/06
-Những bí ẩn của tháp Chàm Aug/05/06
-
Người Việt có bị Hán hóa không? Jul/31/06
-Thăng Long Lược Phong Thủy Kư Jul/30/06
-
Những Nét Văn Hoá Độc Đáo Của Tỉnh Đồng Nai

-Cù Lao Phố, Xưa và Nay

-Đức Từ Cung Hoàng Thái Hậu July/02/06
-Năm Trăm Năm Nh́n Lại
Jun/19/06
-
Tuệ Trung Thượng Sỹ. Ngọn đuốt sáng của đời Trần
Jun/10/06
-
Một chút lịch sử về Qui Nhơn - B́nh Định  Jun/08/06
-Chợ Lớn
Jun/04/06
-Sài G̣n  Jun/04/06
-Chùa Một Cột và tinh thần Phật Giáo thời nhà Lư
 May/19/06
-Cựu Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
May/04/06
-Tổng thống Pháp
 May/04/06

-
Nhà thờ Thánh Phêrô tại Vatican May/04/06
-Lịch sử Chiêm Thành Apr/26/06
-
Người Việt Nam Apr/25/06
-
Khai quốc công Lư Thường Kiệt  Apr/25/06
-Vua Gia Long  Apr/15/06
-Nam Phương Hoàng Hậu
Apr/12/06
-Thượng Thư Phan Thanh Giản Apr/06/06
-
Vị vua cuối của triều Nguyễn Mar/28/06
-Di tích và truyền thuyết về nhà Tây Sơn Mar/04/06
-Văn học đời nhà Trần Mar/04/06
-Văn học đời nhà Mar/27/06
-Toàn Quyền Đông Dương Pháp  Feb/18/06
-Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương Mar/03/06