Phi Lộ:
Nhân dịp ra mắt Tuyển tập Văn học Đồng Tâm số 7 tại
Bắc Cali mùa Thu 2009, là một trong năm cố vấn văn chương, GS
Nguyễn Xuân Vinh đã trình bày quan điểm của ông về danh xưng của
Văn Đàn Đồng Tâm với đôi nét trích dẫn theo khảo hướng văn chương
cổ điển, chúng tôi xin đăng lại bài nói chuyện này.
Việt Hải.

GS Nguyễn Cao Can, GS Doãn Quốc
Sỹ, NV Lê Kim Anh, NV Tạ Xuân Thạc
Vào năm 1988, tôi được Tổng Hội Sinh
Viên Việt Nam miền Nam Cali mời nói chuyện về đề tài “Giới Trẻ
Việt Nam bước sang Thế Kỷ 21”. Trước ngày nói chuyện, đang đi ở
phố Bolsa thì gặp ông Đỗ Ngọc Yến, sau mấy câu thăm hỏi tôi được
ông mời buổi chiều lại phòng sinh hoạt của báo Người Việt để dự lễ
húy nhật một trăm năm Cụ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888). Dĩ nhiên
tôi nhận lời ngay vì xưa nay vẫn ngưỡng mộ lòng yêu nước của cụ
Đồ.
Hơn một trăm năm về trước, chúng ta có
gương mặt bất khuất của Đại Thi hào miền Nam là cụ Đồ Nguyễn Đình
Chiểu. Cụ bị mù lòa năm 26 tuổi nên không có cơ hội gánh vác việc
non sông, chống quân Pháp xâm lăng đất nước. Nhưng Cụ vẫn làm công
việc của Kẻ Sĩ, mở trường dạy học, sáng tác thi văn ngụ ý khuyên
răn người đời. Cụ Đồ Chiểu lại còn bàn luận việc cứu nước với một
số nho sĩ tiết tháo như các cụ Phan Văn Trị, Hồ Xuân Nghiệp, Bùi
Hữu Nghĩa. Khi nhân dân miền Nam nổi lên kháng chiến thì Cụ hết
lòng hỗ trợ. Những lãnh binh như cụ Trương Định, mỗi khi điều binh
đều hỏi ý kiến và tôn Cụ là quân sư.
Tham dự buổi lễ tưởng niệm ngày hôm ấy,
tôi đã đọc câu sau đây trong bài “Văn Tế Sĩ Dân Lục Tỉnh”
của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu, để mọi người thấy đất nước thời Cụ
chẳng khác gì thời điểm miền Nam khi Cộng sản xâm chiếm:
“Kể mười mấy năm trời khốn khổ,
bị khảo, bị tù, bị đầy, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đến tên.
Đem ba tấc hơi mỏn bỏ liều, hoặc
sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước
mắt.”
Đúng vậy, hàng trăm ngàn quân-cán-chính
miền Nam đã bị đầy ải, tra khảo, giết chết trong những trại tù
Cộng sản từ Nam ra Bắc. Cả hàng triệu người phải lìa bỏ quê hương
để đi tìm tự do. Biết bao người chết trong rừng sâu hay bỏ thây
ngoài biển cả. Cuộc vượt biển đã làm chấn động lương tâm nhân loại
ở thế kỷ 20.
Thí dụ trên cho ta thấy rằng những đại
thi văn hào của nước ta, hay trên thế giới, những lời viết ra, có
khi qua hàng trăm năm sau lại có dịp được nổi bật lên cho chúng ta
thấy giá trị câu văn vượt thời gian. Ngay cả cuốn truyện thơ bình
dân “Lục Vân Tiên” cụ hàng ngày đọc ra cho học trò
chép lại, nay nhờ có nhà thơ Nguyễn Bính lấy mấy chữ “Mười
Hai Bến Nước” dùng làm đề cho một tập thơ
của mình mà nguời ta mới khám phá ra rằng lấy ở trong hai câu thơ
thật trữ tình trong Lục Vân Tiên là:
“Lênh đênh một chiếc thuyền tình,
Mười hai bến nước
đưa mình vào đâu?”
Buổi chiều đầu Thu năm 2008, tức là hai
mươi năm sau, tôi lại cò dịp được tham dự và ngỏ lời trong một
buổi họp văn hoá do “Văn Đàn Đồng Tâm” tổ chức ở
miền Bắc Cali, trong hội trường có những bậc tài danh như thi bá
Hà Thượng Nhân, và cũng có sự hiện diện của người khởi xướng và
dẫn dắt Văn Đàn Đồng Tâm là giáo sư Doãn Quốc Sỹ. Những vị này là
trong số những thi văn hào tôi vừa kể ra, là một sáng tác, hay một
câu văn, viết ra hay chỉ nhắc lại mà làm thành vĩnh cửu, được đời
đời nhắc đến.
Nhắc
đến nhà
thơ Hà Thượng Nhân là ta nghĩ ngay đến mục “Đàn Ngang Cung”
của nhật báo Tự Do khi xưa nhưng ta nên biết là nhờ thi sĩ mà mấy
lời phê của Phủ đường trong Truyện Kiều:
“Thôi đừng rước dữ, cưu hờn,
Làm chi lỡ dịp
cho Đờn Ngang Cung”
nay được phổ thông nhắc
đến mỗi khi thấy sự việc ngang trái.
Cũng như vậy, nhắc đến
nhà văn Doãn Quốc Sỹ người ta có thể liên tưởng đến “Gìn
Vàng Giữ Ngọc”, và chỉ mượn nhóm chữ này làm đề tài bài
viết, mà ông đã làm người ta nhớ đến rằng thi văn hào Nguyễn Du đã
từng viết trong Truyện Kiều:
“Gìn Vàng Giữ Ngọc
cho hay,
Cho đành lòng kẻ
chân mây cuối trời” .
Những nhà văn, nhà thơ
được yêu chuộng, đôi khi dùng một từ ngữ nào có sẵn trong dân
gian, đã như có một phép nhiệm mầu làm cho những câu những chữ đó
nổi bật lên trong kho tàng văn học. Mấy câu Gìn vàng giữ ngọc là
của Kim Trọng nhắn nhủ Thúy Kiều truớc khi chàng lên đường. Chắc
chúng ta cũng muốn biết là nàng Kiều đã trả lời ra sao, thì nay
tôi xin thưa rằng Kiều đã thề nguyện:
“Đã nguyền đôi
chữ Đồng Tâm,
Trăm năm thề
chẳng ôm cầm thuyền ai”
Hai chữ ôm
cầm là lấy ở trong bài “Tỳ Bà Hành” của Bạch Cư Dị
đời Đường là “khẳng bả tỳ bà quá biệt thuyền”, nghĩa là “sao nỡ ôm
đàn tỳ bà qua thuyền khác”. Dùng đôi chữ “Đồng Tâm”
để đặt tên cho văn đàn là những người khởi xướng muốn cho chúng ta
cùng chung lòng nâng đỡ những cây viết trẻ và noi theo truyền
thống văn hoá tốt đẹp của những người đi trước. Nói một cách khác
mục đích tối hậu của chúng ta, những người cùng chung lòng phụng
sự văn hoá, là gìn giữ cho tiếng Việt được ngàn đời phong phú trên
mặt địa cầu đa chủng này.
Trong ngạn
ngữ, dù là ở phương Đông hay là dưới trời Tây thường có những câu
ví von là những người giống nhau thì lại tìm đến nhau. Cùng ở
trong một văn đàn, chúng ta chung lòng, cùng một chữ Tâm,
và vì vậy nên hiểu là chữ Tâm ở đây không chỉ có nghĩa là tấm
lòng, mà phải là tấm lòng sắt son cùng theo một mục đích cao cả.
Theo một bài viết mới đây của giáo sư Lê Hữu Mục, một vị cố vấn
trong Văn Đàn, phải hiểu như người có tài thì mới thấy được cái
tài của người có tài, người có nhân tâm thì mới thấy được cái nhân
tâm của người có nhân tâm. Và vì vậy nơi đây, chúng ta là người
cùng có tâm huyết mới tìm đến nhau. Theo giáo sư, chính cái chữ
"Tâm" đã được thi hào Nguyễn Du dùng làm chuẩn trong thơ của ông.
Chữ Tâm, tuy không được nhắc đến nhiều trong Truyện Kiều như chữ
Tài, chữ Mệnh, nhưng đặt ở đoạn nào
cũng nặng ý nhắc nhở một cách ân cần. Câu đầu tiên của Từ Hải nói
với Vương Thúy Kiều là:
“Từ rằng: Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng
gió vật vờ hay sao?”
có nghĩa là lấy tấm lòng
hiểu nhau mà đối với nhau. Sau này cũng vẫn lời Từ Hải nói thêm
khi từ biệt ra đi làm việc lớn:
“Từ rằng: Tâm
phúc tương tri,
Sao chưa thoát
khỏi nữ nhi thường tình?”
nghĩa là đã hiểu được
lòng của nhau rồi thì nên để sang bên những chuyện thường tình.
Theo Nguyễn
Du thì nàng Kiều là người có tâm, nghĩa là có lòng, lòng hiếu và
lòng thành. Trước hết theo lời đạo cô Tam Hợp, có lời khen
“Lấy tình thâm,
trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động
hiếu tâm đến trời!”
và sau đó Đạm Tiên cũng
phải than rằng:
“Chị sao phận
mỏng đức dầy,
Kiếp xưa đã vậy,
lòng này dễ ai!
Tâm thành đã thấu
đến trời,
Bán mình là
hiếu, cứu người là nhân.”

GS Nguyễn Cao Can,
CTT Nguyễn Bá Cẩn,
BS Peter Morita, GS
TP Nguyễn Xuân Vinh
Tôi tuy là một
cố vấn trong Văn Đàn, nhưng là người mới gia nhập. Tuy vậy tôi có
thể nói là người có nhiệt tâm, vì làm công việc văn hoá còn gì có
ý nghĩa hơn và đúng đường lối hơn là theo như chủ trương của Văn
Đàn là nâng đỡ những cây viết trẻ và noi theo gương sáng của những
người đi trước. Đó là ý nghĩa của chữ Tâm trong Văn Đàn Đồng Tâm.
Cái giá trị của chữ Tâm cũng đã được Đại Thi Hào
Nguyễn Du gom lại trong hai câu thơ mà tôi nay nhắc lại như là
những câu kết cho bài viết này:
“Thiện
căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba
chữ Tài.”
Nguyễn Xuân Vinh
*
Web-link:
http://www.ledinh.ca/Bai%20Phong%20Van%20Ngu%20Ho%20Tuong.html