|
|
|
|
Ban Cố
Vấn Address: Tel:
Web Designed by |
Ư THỨC NHÂN BẢN
TRONG
Phi Lộ: Xuân Vũ tên thật là Bùi Minh Triết sinh ngày 19-3-1930 tại làng Hương Mỹ, quận Mỏ Cày, tĩnh Bến Tre. Thân phụ là cụ Bùi Văn Hai, giáo chức, có sáng tác cả ngàn bài thơ Đường luật nhưng không có phổ biến. Lúc nhỏ học trường Tiểu học Mỏ Cày, rồi vào Collège Le Myre De Vilers. Năm 1945 ông bỏ học đi theo Kháng Chiến, vào chiến khu U-Minh làm phóng viên cho tờ “Tiếng Súng Kháng Địch” của Khu 9. Năm 1955 ông tập kết ra Bắc làm biên tập viên cho báo “Văn Nghệ.”. Sau một thời gian sống ở Hà Nội, ông rất thất vọng với chế độ Cộng Sản do Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông lănh đạo. Xuân Vũ nhiều lần t́m cách trốn về Nam nhưng lần nào cũng thất bại. Măi đến năm 1965 ông mới có cơ hội chánh thức xin về Nam để nghiên cứu phong trào Đồng Khởi tại tĩnh nhà (Bến Tre). Ông được chính quyền Hà Nội chấp thuận cho đi B (tức là vượt Trường Sơn đi vô Nam). Ông phải mất hai năm gian nan nguy hiểm trên đường Trường Sơn mới vào được tới chiến khu D ở Tây Ninh vào năm 1967. Năm sau ông quyết định trở về với chế độ tự do. Ông ra tŕnh diện với chính quyền tĩnh Bến Tre, được đưa về Sài G̣n phục vụ trong Bộ Chiêu Hồi, với chức vụ Phó Giám Đốc Nha Chiêu Hồi. Quyển hồi kư nổi tiếng của ông, quyền “Đường Đi Không Đến,” được ra đời trong năm 1971 và được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Gia (1972-1973). Năm 1975 gia đ́nh ông sang định cư ở Corpus Christi, Texas. Ông phải làm lụng vất vả đủ nghề để nuôi sống gia đ́nh. Năm 1987 ông dời về San Antonio (Texas). Khi việc gia đ́nh tạm ổn định ông bắt đầu viết lại, và viết rất hăng say. Tính đến cuối năm 2003 ông đă hoàn tất 78 tác phẩm. Từ tháng 9 năm 2003 ông bắt đầu bị đau, phải đi lộc thận. Tháng 11/2003 ông phải giải phẫu tim. Bệnh biến chứng sau đó, và cuối cùng ông mất hồi 2:22 phút chiếu ngày 1-1-2004, hưởng thọ 73 tuổi, để lại một vợ 5 con. *** Đầu năm 2004 một hung tin đă đến với các văn nghệ sĩ và một số không nhỏ đồng bào Việt Nam hải ngọai: nhà văn Xuân Vũ đă từ trần. Tin này được phổ biến nhanh chóng và rộng rải. Không biết bao nhiêu bài vở được đăng trên các báo chí nói về nhà văn nổi tiếng này. Riêng tờ “Tự Do” số 372 (từ ngày 14-02-04 đến ngày 27-02-04) đă dành hơn 100 trang (từ trang 110 đến hết trang 223) đăng bài nói về Xuân Vũ của hơn mười văn thi sĩ nổi tiếng như Xuân Tước, Hồ Trường An, Hải Bằng, Thanh Thương Hoàng, Hà Thượng Nhân ...Bài nào cũng rất có giá trị, cũng đều nói lên sự nghiệp văn chương sáng chói cũng như con người đáng thương, đáng kính, và đáng quư của nhà văn quá cố. Các tác giả ở đây là những người đă từng thân thiết và biết rơ Xuân Vũ. Bài vở của họ cho chúng ta nhiều chi tiết rất đặc biệt về con người và sự nghiệp của nhà văn. Điểm nổi bật trước nhất là sức viết và khối lượng tác phẩm khổng lồ của ông. Trước 1975 tác phẩm của ông không có ǵ đáng kể về phương diện số lượng. Những năm đầu tiên trên đất Mỹ, v́ bận làm việc nuôi thân và gia đ́nh, ông cũng không viết được ǵ nhiều. Nhưng, “sau một số năm làm việc “ra tiền” nhưng không “ra chữ” kia, Anh (Xuân Vũ) đă quay lại bàn giấy để chuyên tâm trở lại cái nghiệp của ḿnh.” (Trương Anh Thụy, Tự Do Bi-weekly, số 372, tr. 192.). Thầy Đồ Họ Tăng đă rất ngạc nhiên về sự quay trở về nghề viết này của Xuân Vũ. Thầy Đồ đă có lần nghĩ một cách sai lầm là “anh chàng lănh giải thưởng của “hai chế độ thù nghịch này” sẽ không chung t́nh với nàng văn chương nữa đâu.” Nhưng Thầy Đồ thú nhận rằng:”đồ tôi đă lầm, Xuân Vũ dọn về San Antonio, anh lại viết khỏe hơn, liên tiếp những tác phẩm đánh lớn và ăn khách xuất hiện.” (Thầy Đồ Họ Tăng: Xuân Vũ, giơ cao cây viết tới những ngày cuối, bài chưa đăng). Ông Lê Tùng Minh trong bài “Xuân Vũ, Một Ngôi Sao Văn Học Đă Tắt,” cho biết nhà văn này “có sức sáng tác khác thường! Chỉ trong ṿng 8 năm gần đây (1996-2003), mỗi năm nhà văn tuổi 70 này đă cho ra đời trung b́nh là 4 tác phẩm, với khoảng trên dưới 1,000 trang...” (nt., tr.152). Cũng Trương Anh Thụy, nói về sức sáng tác và số lượng tác phẩm lớn lao của Xuân Vũ, viết: “ Anh đánh Đông, chinh Tây, viết ào ạt, viết đủ thứ... Anh đều đặn có mặt trên khoảng 20-30 tờ báo hải ngoại...Theo như một ước tính, có lẽ c̣n chưa kể các bản thảo hay những tác phẩm chưa hoàn tất, tổng tác phẩm của Anh cho đến nay đă lên tới 75 nhan sách, truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa, truyện trường thiên, rồi hồi kư, biên khảo...” (nt. , tr. 192). Và theo Mặc Bích th́ “Gần 100 cuốn sách (nếu kể cả sách đang in hay sắp in). Người đọc có hiểu được bao nhiêu tơ mà tầm đă rút ruột nhả ra? Làm việc suốt ngày với trí tuệ, không chỉ cần mẫn mà c̣n say mê.” (nt., tr.112). Nhận xét của Nguyễn Thị Thanh B́nh về sức viết Xuân Vũ là “Ông lúc nào cũng thấy như ḿnh không c̣n nhiều thời gian để viết. Viết, viết, và viết, như thể ông vẫn c̣n quá nhiều điều để nói mà vẫn chưa nói hết.” (nt., tr. 180). Những nhận xét được trích dẫn trên đây cũng đă được chính Xuân Vũ xác nhận trong bài tựa cho quyển Tự Vị Thế Kỷ (xuất bản 1990) của ông: “Tôi hiện nay tạm đủ sống, tôi bỏ mọi việc làm để chỉ viết mà thôi, viết bằng tay phải và tay trái chứ không chỉ viết bằng tay trái như năm năm đầu tị nạn bận lo cơm áo nữa...Chưa bao giờ tôi thấy tiếc th́ giờ như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ tôi thấy tôi thích cái thằng tôi như bây giờ.” (tr. VI-VII). Ông chưa bao giờ thích “cái thằng tôi như bây giờ” v́ bây giờ ông được để hết th́ giờ vào việc viết lách, và có tất cả tự do để viết ra những ǵ ông muốn viết. Có điều là những ǵ ông muốn viết ra thật quá nhiều, nhiều đến đổi ông sợ không có đủ th́ giờ để viết mặc dù ông có thói quen viết thật nhanh. Ông tiếc th́ giờ là vậy. Nhưng những điều ông muốn viết ra là những ǵ? Đó là những ǵ ông đă đụng chạm, đă chứng kiến, đă thu nhập vào nội tâm, đă nghiền ngẫm suy tư, đă ghi sâu vào kư ức, đó là tất cả những ǵ đă diễn ra trước đôi mắt nhân chứng trong cuộc sống của ông, một cuộc sống thật là rộng rải, thật là phong phú. Đây không phải là cuộc sống yên ấm, chật hẹp trong nhung lụa, suôn sẻ hưởng một nền giáo dục kinh viện, kết thúc với những bằng cấp thật cao, rồi cưới vợ giàu có đẹp đẻ, chiếm địa vị nào đó trong xă hội yên b́nh, sống một đời dư dảsung sướng hạnh phúc. T́nh thế của đất nước từ năm 1945 đă không để yên cho ông đi học hết trung học. Ông đă phải bỏ học về quê Bến Tre, tham gia phong trào cứu quốc. Ông đă ư thức được ḷng yêu nước, và ư thức về sự dấn thân vào những hoạt động hữu ích cho quốc gia. Trong thời gian đi kháng chiến ở trong Nam, cũng như những tháng ngày tập kết ngoài miền Bắc ông đă học được rất nhiều, không phải là những bài học ở học đường nhưng là những bài học quư giá hơn ở ngoài đời. Là người rất thông minh, lại đóng vai tṛ một nhà văn, một phóng viên của tờ “Tiếng Súng Kháng Địch” thuộc Khu IX kháng chiến, ông có cơ hội tiếp xúc với hầu hết những nhân vật quan trọng, đầu năo của công cuộc kháng chiến chống Pháp. Lúc tập kết ra Bắc cái thông minh giúp ông tạo điều kiện để gặp gỡ giới văn nghệ sĩ miền Bắc, để hỏi han, để t́m hiểu, để suy tư. Ông đọc rất nhiều sách, nhiều tài liệu về văn chương, về tư tuỏng, của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở trong nước cũng như ở ngoại quốc. Phải nói là ông biết quá nhiều về quê hương ông, về xă hội Việt Nam, miền Nam cũng như miền Bắc, và công cuộc kháng chiến oai hùng của những người đứng lên chống Pháp lúc ban đầu. Ông cũng biết quá nhiều về những nhân vật quan trọng lănh đạo công cuộc kháng chiến về sau. Nhưng cái biết nhiều nhất và nguy hiểm nhất của ông là những bí ẩn, những âm mưu thầm kín, những giả dối lừa bịp, những tham tàn nhơ nhuốc của những kẻ cầm đầu cuộc Cách Mạng, cũng như những giáo điều cùng chế độ cộng sản, và xă hội chủ nghĩa mà ông thường mỉa mai bằng danh từ xă nghĩa. Kho kiến thức đó là kho tài liệu vô cùng phong phú để cho ông viết ra liên miên hết quyển này đến quyển khác. Mở đầu truyện ngắn “Tự Vị Thế Kỷ” ông viết: “Từ mười năm qua tôi chỉ có một đích ngắm. Viết tất cả những ǵ tôi biết về Cộng Sản Hà Nội ra thành chữ để ai muốn đọc th́ đọc. Tập Truyện Tự Vị Thế Kỷ này là quyển thứ sáu tôi viết về Cộng sản...Viết những truyện này tôi có ư định mô tả bản chất và mặt mũi Cộng sản, không phải chung chung mà bằng xương bằng thịt, có tên có tuổi.”(Tựa Tự Vị Thế Kỷ). Với ông người cộng sản cũng như chủ nghĩa cộng sản không có ǵ đáng phục, đáng đi theo. Nó chỉ là một cái ṿng lẩn quẩn. “Dùng sức dân để Phá Ngục Bastille để xây ngục Bastille khác to và kiên cố hơn để nhốt dân. Đó là Cộng sản.” (Tựa Tự Vị Thế Kỷ). Ngục Bastille của Pháp thời quân chủ tượng trưng cho quyền độc đoán của nhà vua, cho sự áp bức người dân, sự đày đọa người dân trong dốt nát, khốn khổ, bần cùng, bắt họ phải phục vụ cho giới thượng lưu quyền thế. Ư nghĩa của sự phá ngục Bastille là lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế. Tưởng người dân sẽ được giải phóng khỏi sự áp bức của chế độ độc tài bất công và bất nhân, nhưng mà không. Cộng sản chỉ đập phá, lật đổù chế độ chuyên chế của nhà vua để thay thế bằng một chế độ chuyên chế, độc tài khác gớm ghê hơn nữa của chế độ cộng sản. Nhiều tác phẩm của Xuân Vũ được sáng tạo với chủ đích vạch trần những sự chuyên chính độc tài của Cộng sản Hà Nội, cũng như những thủ đoạn lưu manh tham tàn của những người lănh đạo chế độ phi nhân này. Ông viết : “Nhiều nhà văn, nhà chính trị, nhà trí thức và người thường – không nhà ǵ cả – cho rằng cộng sản là loại người không tim, không có nhân tính. Tôi đồng ư hoàn toàn. Nhưng chúng giỏi che dấu và giỏi lừa bịp. Cho nên con quỉ khát máu mang bộ mặt người vẫn sống chung được với loài người thậm chí c̣n được loài người tin yêu mới lạ chứ.” (Tựa Tự Vị Thế Kỷ). Xă hội Cộng sản Việt Nam đă được Xuân Vũ vẽ ra trong hai bức tranh thật sống động, khác nhau nhưng tiếp nối lẫn nhau. Bức tranh thứ nhất là bức tranh của xă hội Việt Nam dưới chế độ Cộng sản Hồ Chí Minh trước năm 1975. Quyển “Sông Nước Hậu Giang” và một số các truyện ngắn trong “Con Người Vốn Quư Nhất” và “Tự Vị Thế Kỷ” của ông đă góp phần vẽ nên bức tranh này. Đặc biệt nhất là bộ hồi kư năm quyển (Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Mạng Người Lá Rụng, Đến Mà Không Đến, và Đồng Bằng Gai Gốc) mật thiết liên hệ tới bức tranh Cộng sản Việt Nam trước 1975. (Những quyển hồi kư này, nhất là quyển Đường Đi Không Đến) có giá trị đặc biệt mà tôi sẽ đề cập đến ở phần sau. Bức tranh thứ hai vẽ lên xă hội Việt Nam sau khi bị Cộng sản thống trị từ Bắc chí Nam sau ngày 30 tháng tư 1975. Tác phẩm “Đỏ Và Vàng”, và nhiều truyện ngắn trong “Thiên Đàng Treo Đứt Giây” và nhiều tác phẩm khác của ông đă góp phần xây dựng bức tranh thứ hai này. Ta hăy nh́n vào bức tranh thứ nhất trước. Ngay từ lúc công cuộc kháng chiến c̣n dở dang mà những tệ hại của chủ trương nhuộm đỏ phong trào tranh đấu cũng như những xấu xa đen tối của những người lănh đạo Cộng sản cũng đă thể hiện rồi. “Sông Nước Hậu Giang” cho thấy rơ bộ mặt thật của Cộng sản và những kẻ mặt người ḷng thú do Hồ Chí Minh gởi từ ngoài Bắc vào Nam đóng vai tṛ lănh đạo kháng chiến ở vùng này. Đây là một quyển tiểu thuyết kể những sinh hoạt của một số cơ quan trong khu IX mà nhân vật chính là anh Quang, một thanh niên có chút tŕnh độ học vấn trung học nhưng đă bỏ học đi theo kháng chiến. Anh phục vụ trong một cơ sở ấn loát và sau đó làm phóng viên cho tờ “Tiếng Súng Kháng Địch”, tờ báo của Khu IX Kháng Chiến. Nhân vật này mang tên tiểu thuyết là Quang nhưng có lẽ tên thật của anh ta ở ngoài đời là Xuân Vũ. Quang có cơ hội biết rơ chủ trương nhuộm đỏ kháng chiến của Hồ Chí Minh như thế nào, việc thanh toán các đảng phái khác như thế nào cũng như nhiều hạng người từ hạng thật cao đến hạng cùng đinh, từ các nhà trí thức thật lớn đến những kẻ dốt đặt không đọc được một chữ nào. Quang có cơ hội làm quen với họ, chơi thân với họ, biết rơ chuyện ǵ xảy ra trong đời họ. “Sông Nước Hậu Giang” cho thấy trong hàng ngũ kháng chiến có nhiều hạng người: có những người đi kháng chiến là đi theo tiếng gọi của non sông khi tổ quốc lâm nguy. Họ chỉ biết làm bổn phận công dân khi sơn hà nguy biến, không nghĩ ǵ đến địa vị, đảng phái. Có lẽ Quang, Tú Anh, và nhiều trí thức miền Nam khác trong truyện là những người thuộc nhóm này. Bên cạnh đó cũng có những người kháng chiến khác xem cộng sản là lư tưởng cứu nguy tổ quốc và nhân loại. Những người này, ngoài ư thức phụng sự dân tộc, c̣n muốn gia nhập đảng cộng sản để tranh đấu hữu hiệu hơn. Họ có thể có một số cũng thuộc thành phần trí thức, địa chủ ở miền Nam. Hạng người thứ ba là hạng kháng chiến thuộc thành phần bần cố nông hay trung nông, và đây là thành phần quyết chí vô đảng cộng sản cho bằng được. Đây là thành phần được gọi là “tiến bộ” theo nghĩa của Cộng sản. Sự phân biệt các thành phần , gần như là kỳ thị giai cấp này, đưa đến hậu quả tai hại là: “những người làm bí thư chi bộ CS đều là thành phần cơ bản, tức là bần cố nông. Do đó những người tiến bộ thường là bần cố nông. Công tác của họ là chèo xuồng, liên lạc, sản xuất, gửi giấy tờ chớ không làm nổi các việc văn hóa như đánh máy hoặc làm trưởng, phó cơ quan. V́ vậy có sự chèo ngoe là trưởng cơ quan chuyên môn luôn luôn là trí thức, c̣n bí thư chi bộ th́ lại là bần cố! Trưởng cơ quan là người ngoài đảng khi muốn làm việc ǵ thuộc nội bộ lại phải có sự đồng ư của bí thư chi bộ. Muốn thi hành kỷ luật một nhân viên đảng viên, vị trưởng cơ quan phải thỉnh ư bí thư chi bộ chớ không dám quyết định một ḿnh... Chi bộ là một thứ tổ chức nằm trong tổ chức, một thứ cơ quan nằm trong cơ quan, đôi khi lại chỉ huy ngược lại cơ quan và thủ trưởng của ḿnh. Đó gọi là đảng lănh đạo.” T́nh trạng đặc biệt này đưa đến sự xung đột gay go giữa những giai cấp với nhau. Sự kỳ thị, xung đột c̣n nguy hiểm, tệ hại hơn nữa là sự tranh chấp, thanh toán nhau giữa các đảng phái chính trị, như sự xung đột đỏ xanh và sự thanh toán nhau giữa hai đảng Đỏ là cộng sản, và đảng Xanh là dân chủ. “Đỏ và Xanh là hai đồng chí cùng kháng chiến phục vụ dân tộc, nhưng đỏ lại lộng quyền và có tham vọng thanh toán đám xanh để nắm toàn bộ quyền hành...CS kết nạp th́ DC cũng kết nạp. Nhưng về sau, CS thấy DC gây được ảnh hưởng lớn nên sợ hải, bèn t́m cách thanh toán DC.” (Sông Nước Hậu Giang, tr. 140-141). Trong mưu đồ nhuộm đỏ và thống lănh phong trào kháng chiến, HCM gởi những cán bộ CS cao cấp, những người thân cận với ông ta, vào Nam t́m cách thay thế thành phần lănh đạo phong trào tranh đấu trong Nam dù họ có bao nhiêu công lao đối với kháng chiến đi nữa. Đây là sự chứng kiến của Quang: “Quang đă về cơ quan mới... Cơ quan mới là ban Tuyên Huấn của Pḥng Chính Trị Phân Liên Khu miền Tây. Từ ngày phái đoàn trung ương vào, các cơ quan quân đội trong chiến khu IX đều thay đổi từ tổ chức đến người chỉ huy. Tất cả những cấp chỉ huy khu gốc người Nam Bộ đều được đặt vào chức vụ khác hoặc không có ghế ngồi. V́ bất tài, kém đức (!?) hay v́ ǵ khác để người ngoài trung ương vô tha hồ chia chiếu và xôi thịt. (Măi về sau khi tập kết ra Bắc, nh́n thấy thành phần trong chính phủ Hà Nội, Quang mới nhỡ lẽ ra là cuộc kháng chiến này là một tṛ bịp vĩ đại của cụ Hồ. Khi cần đưa ra đỡ đạn cà nông và chặn xe tăng Pháp th́ họ kêu dân Thành Đồng Tổ Quốc nhào ra. Khi kháng chiến thành công rồi, mâm cỗ dọn lên, cụ Hồ cùng các cháu Trung và Bắc Kỳ vuốt râu chạm cốc, dân Nam Kỳ chun dưới đít ván chực xương. Đéo có mặt nào ngồi được cái ghế kha khá. Sáng mắt chưa dân Thành Đồng Tổ C̣?)(SNHG, tr.297-298). Sau đây là một số các trường hợp cụ thể: “... Tư lệnh Phân Liên Khu miền Tây là tướng hô Dương Quốc Chính, chính ủy là Lê Đức Thọ kiêm Tư lệnh kiêm luôn chính ủy Liên khu Nam Bộ (Thọ thay Lê Duẩn trong chức Bí thư Trung ương Cục sau này), với tên mắt lươn Đinh Ngọc Thủy làm Trưởng Pḥng Chính Trị (Sau này ra Hà Nội, Thủy được giao cho làmTrưởng phái đoàn Việt Nam đi triển lăm thành tích nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ở các nước Đông Âu XHCN và Liên Xô. Tại Bucarest, Thủy quơ ẩu cô bé đoàn viên Thanh Niên cộng sản bị cô đồng chí phản đối báo cáo lên đại sứ quán VN. Thủy xấu hổ nhảy lầu tự vận nhưng không chết). Bộ Tư Lệnh Phân Liên Khu miền Đông gồm có Tư lệnh Trần Văn Trà, chánh ủy Phan trọng Tuệ. Các nhân vật trụ cốt gốc Nam Bộ được đẩy êm về vườn xúc tép cắm câu cá tra. Trương văn Giàu (không phải Trần văn Giàu) văng luôn hai chức Tư lệnh khu 8 rồi khu 9. Nguyễn văn Trấn đi Tây không về. Trịnh Khánh Vàng đáo nhậm Sài G̣n. Huỳnh văn Nghệ Tô Kư về làm tỉnh đội trưởng Thủ Biên và Bà Chợ (Bà Rịa, Chợ Lớn). Nguyễn văn Sa chính trị viên Trung đoàn Tây Đô về làm tỉnh đội trưởng Bạc Liêu ăn hút dưỡng lăo đả đời. Hoàng Thế Thiện (Bí thư Vơ Đại Tướng!?) thay Sa trong chức chính ủy. Tất cả chính trị viên đều do tỉnh ủy nắm. Như vậy Trung ương đă hạ bệ Nam Bộ một cách êm ru. Đám cán ngáo Nam kỳ tha hồ chửi lên cụ Hồ chơi đểu. Thằng nào dám chửi công khai sẽ có trại giáo hóa chào đón. Cán bộ tiểu đoàn vô nghỉ mát ở đây cũng nhiều. Hoàng Thọ bị Lê Duẩn mạo thơ Nguyễn B́nh rồi đem đi thủ tiêu ở Cạnh Đền vào thời điểm này. Phi Líp, Phi Hùng, hai cán bộ tiểu đoàn trật quần trước mặt chính ủy Hoàng Dư Khương bị đưa vô trại giáo hóa rồi biệt tích. Kháng chiến thật diệu kỳ cho ai và chẳng diệu kỳ cho ai?) (SNHG, tr. 304-305). Trên đây là một số trường hợp cho thấy mưu đồ xăm chiếm độc quyền phong trào kháng chiến toàn quốc của cộng sản Bắc Việt. Nhưng bên cạnh mưu đồ lớn lao kia cái tồi tệ nhất là cảnh các ông to cộng sản Bắc Việt âm mưu độc ác chiếm đoạt cho được người phụ nữ trẻ đẹp con nhà gia giáo giàu có ở miền Nam bằng mọi cách kể cả việc chia uyên rẻ thúy, đưa người yêu/vị hôn thê hay ông chồng đi vào chỗ chết để dễ dàng thực hiện ư đồ đen tối của ḿnh. Dùng tiền của, quyền thế dụ dỗ, bức hiếp phụ nữ tuổi đáng con cháu ḿnh để thỏa măn thú tính, điều này không thiếu ở những cán bộ chỉ huy Cộng sản trong “Sông Nước Hậu Giang.” Những tội ác dâm ô, thác loạn của các lănh tụ và các cán bộ cao cấp Cộng sản được phơi bày đầy dẫy trong các tác phẩm của Xuân Vũ, ngoài quyển tiểu thuyết vừa kể. Ngoài ra c̣n có những chuyện hết sức ghê tởm chỉ có trong thế giới Cộng sản của Hồ Chí Minh cũng được tác giả ghi ra, như chuyện một cô gái c̣n trẻ bị một cán bộ lớn tuổi áp bức làm t́nh với ông ta trên vơng làm cho chiếc vơng không chịu đựng nổi sức nặng của hay người vùng vẫy đă phải đứt ngang làm cho cả hai người té từ trên cao xuống những ḥn đá lơm chỏm của Trường Sơn. V́ cô gái nằm dưới cho nên lưng cô bị một ḥn đá nhọn đâm lủng lưng găy xương sống, nằm yên một chỗ, không cựa quây được. Sau 3 ngày khổ sở, không thuốc men, cô này chết trong đau thương. Chi tiết này được ghi trong “Đường Đi Không Đến” và sau này được viết lại thành truyện ngắn “Lại Vốn Quư Nhất” trong quyển “Con Người Vốn Quư Nhất.” Cũng trong “Con Người Vốn Quư Nhất” c̣n có câu chuyện kinh tởm hơn mà không ai có thể tưởng tượng được. Đó là chuyện “Hạnh Ngộ Bọt Bèo” do một tên tù cộng sản kể về việc anh ta đă từng phục vụ trên một chiếc tàu chuyên đi từ Bắc vào Nam chở các thương binh cộng sản, nói dối là đưa ra tàu Liên Sô chũa bệnh, nhưng khi tàu ra biễn khơi th́ được lệnh quăng hết tất cả thương bệnh binh xuống biển. Bức tranh thứ hai của Xuân Vũ cũng cung cấp nhiều chi tiết mà tác giả cho là “ly kỳ, quá sức hấp dẫn, quá sức tưởng tượng... những chi tiết không thể thấy ở đâu ngoài Việt Nam, những chi tiết không một nhà văn nào tưởng tượng nỗi... Sau đây là những chi tiết, chỉ liếc qua đă kinh tâm tán đởm. Mười cây cho một đầu người, trẻ con nữa giá. Một năm tám ngàn người được cho vượt biên – Thu: 300 triệu đô la – 600 bgàn lạng vàng – 30,000 lạng vàng,v.v... Vàng ở đâu mà nhiều đến thế? Đó là của những người “làm tất cả để được bỏ nước ra đi.” Và nhờ buôn những công dân của nước ḿnh mà nhà nước xă hội chủ nghĩa Việt Nam, qua tay của những cán bộ có 30-35 tuổi đảng, đă thu lợi đến mức đó...” (Tựa Đỏ Và Vàng) . Tác phẩm Đỏ Và Vàng vạch trần tất cả mánh khóe vơ vét, làm tiền của chủ nghĩa xă hội, của chính phủ cộng sản và cán bộ các cấp trong việc bán tích kết vượt biên. Kế hoạch cho vượt biên lấy tiền được nghiên cứu, chuẩn bị và thi hành như thế nào, ác độc ra sao, thu vào được bao nhiêu... những chi tiết kinh khủng này được Xuân Vũ mô tả khá đầy đủ trong tác phẩm này. Giá qui định của Trung Ương là từ bảy đến mười lạng vàng, nhưng cán bộ có thể tùy ư tăng lên, đó là chưa kể các khoản trà nước khác không có trong “kế hoạch.” Tác phẩm cho thấy cán bộ thi hành kế sách đă thu hoạch được cho cá nhân và gia đ́nh một sự sản đồ sộ. Làm tiền công khai, trắng trợn, không bao lâu cán bộ và cấp lănh đạo giàu to, và xài tiền như nước. Sau đây là một phút phản tĩnh của một cán bộ thi hành chính sách làm tiền này: “Cách mạng là ǵ? Câu hỏi đó đă được trả lời rơ ràng nhất sau khi cách mạng thành công. Khi đang tiến hành th́ cách mạng thật cao cả, nhưng khi thành công rồi th́ ḷi bộ mặt gian trá, đê tiện và sát nhân. Khi mới bắt đầu đi theo cách mạng th́ thằng này cũng như mọi người, hăm hở tự hào biết bao nhiêu. Nhưng khi cách mạng thành công rồi lại nản chí vô cùng. Lắm lúc nghe người dân bảo: “Đừng có cách mạng phải tốt hơn không?” – Hai Khiết nghĩ lan man, lan man. Nhiều khi Hai Khiết hối hận v́ đă ăn hối lộ, đă gian dâm, đă lấy công quỹ xài như nước, đă bắt dân để tống tiền, thậm chí giết oan nhiều người, nhưng với cách mạng ngày nay đó là sự b́nh thường. Không ăn hối lộ tiền đâu trác táng, không nạy công quỹ lấy đâu bịt mồm em út, không bốc lột nhân dân lấy đâu đấm mỏm các anh lớn. Anh lớn không phải là thần thánh, anh lớn ham xe hơi, nhà đẹp và quơ vợ bé vợ mọn hơn cả em út. Hai Khiết không thể làm một cây sen trong hồ mà chỉ là một mớ bùn trong cái băi bùn dưới gốc cây sen.” (Đỏ Và Vàng, tr. 150-151). Trong khi đó th́ người dân sau khi bị bốc lột đến tận xương tủy, phải sống một đời không một chút giá trị của con người. Chuyện Bố C̣i trong “Con Người Vốn Quư Nhất” có thể tiêu biểu cho cảnh khốn khổ tột cùng của con người dưới chế độ cộng sản phi nhân Hà Nội. Tựa quyển Tự Vị Thế Kỷ tác giả viết: Kỳ Cục là cảm giác đầu tiên của tôi đối với Cộng sản... Bây giờ lưu vong. Đứng xa Cộng sản một vạn cây số, và sống trên một nước Tự do, tôi thấy Cộng sản càng Kỳ Cục.” Và cái kỳ cục đó đă được Xuân Vũ đưa vào Tự Vị Thế Kỷ của ông. Ông bảo: “Tên sách nghe có hơi khô khan, nhưng khi vở vào trong bạn sẽ bắt gặp nào bộ mặt tổng bí bị mèo quào, nào ủy viên bộ chính trị o gái bị gái mắng, nào giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc nhảy lầu tự vận v́ muốn chạy tôi dâm ô, nào chánh ủy giật vợ thuộc cấp, nào đại tướng mê nhạc tím nhạc vàng, nào chính trị viên đi bia nhộng, nào đồng chí cuỗm vợ đồng chí, nào thí sinh nham nhỡ,vv... Cả một quyển Tự Vị sống mà mỗi một trang sách như một trang tự vị để bạn đọc có thể tra cứu về Cộng sản: tàn bạo, vô luân, xảo quyệt, dâm ô, lưu manh, rởm, đểu, vv...” (Tựa Tự Vị Thế Kỷ). V́ cái kỳ cục đó mà Xuân Vũ thấy không thể nào sống được trong chế độ cộng sản Hà Nội. Ông xin về Nam sau khi tập kết được một năm. Xin về không được th́ ông t́m cách trốn đi. Nhưng trốn cũng không được thành ra ông lại phải ở lại xă hội cộng sản Bắc Việt thêm một thời gian nữa. Ông lại có nhiều cơ hội để biết rơ thêm về “xă nghĩa,” về “triều đ́nh nhà Hồ, ” và nhất là cái “không c̣n nhân tính của người cộng sản.” Sau cùng ông cũng được cho “đi B” tức là về Nam để nghiên cứu viết về chiến dịch Đồng Khởi. Hành tŕnh về phương Nam của ông được ghi lại khá chi tiết trong bộ hồi kư năm quyển của ông (Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Mạng Người Lá Rụng, Đến Mà Không Đến, và Đồng Bằng Gay Gốc). Trừ Đường Đi Không Đến được viết trong khoảng 1971-72, các tác phẩm khác chỉ được viết sau này khi tác giả đă định cư ở Mỹ. “Đồng Bằng Gai Gốc” là quyển thứ năm trong bộ hồi kư năm quyển này. Con đường về Nam là con đường núi rừng hiểm trở, nguy nan, chết chốc, mà cảnh “Mạng Người Lá Rụng”, và “Xương Trắng Trường Sơn” là h́nh ảnh nổi bật nhất trong kư ức của người chiến sĩ này. “Đồng Bằng Gai Gốc” là giai đoạn cuối cùng của con đường về Nam. Về đây Xuân Vũ được nh́n thấy lại quê hương Mỏ Cày ở tĩnh Bến Tre, và bà ngoại cùng những người thân khác trong gia đ́nh tác giả. Về được quê hương, sống bên cạnh những người thân, nhưng ḷng không quên được cái hăi hùng của những ngày tập kết ra Bắc. Xuân Vũ kể: “Câu chuyện bất ngờ đưa tôi vào cái hố đau thương của dân Nam Bộ mù quáng: “Tập Kết”. Tập kết là thắng lợi của riêng Trung Ương Đảng chớ không phải của dân Việt Nam càng không phải của dân Nam Bộ. Ngược lại, đối với dân Nam Bộ là một sự phủ phàng, một sự tàn bạo, một sự lừa gạt ngọt ngào. Tiểu Đoàn Trưởng Lê Thanh Nhàn, tức Nhàn Râu là một anh hùng dân tộc. Anh là con trai độc nhất của một ông Hội Đồng, anh có bằng Tú Tài, biết làm thơ và vẻ tranh. Đầu kháng chiến anh đứng ra chiêu tập dân làng và tiến tới thành lập bộ đội vơ trang, sau này trở thành Tiểu Đoàn Chủ Lực 308. Giặc Pháp phải nể uy danh. Tám năm xông pha trên trăm trận, Nhàn Râu ra Bắc được ǵ? – Tù!!... Riêng những đơn vị Nam Bộ ra Bắc th́ mất phiên hiệu, một số làm lính giữ ngựa cho triều đ́nh nhà Hồ, số c̣n lại th́ đi phá rừng Lam Sơn, rừng Xuân Mai. Trong số này có không ít những người bất măn bỏ ra dân làm nghề vô danh hoặc lên rừng cạo đầu làm Mán, Mường...kể không xiết nỗi đau buồn. Đến khi cần th́ Đảng Bác gọi lại, đem đút vô ḷ sát sinh Trường Sơn... Đảng Cộng Sản sinh ra để làm hai việc: nói láo và làm bậy. Hễ chúng nói là nói láo, hễ làm là làm bậy. Xin đọc giả nhớ giùm cho như vậy. Sông có thể cạn, núi có thể ṃn nhưng chân lư đó không bao giờ thay đổi.” (ĐBGG, tr.334-335). Về đây Xuân Vũ có cơ hội biết rơ hơn sự tuyên truyền láo khoét của Cộng sản Hà Nội. Những anh hùng cách mạng mà Cộng sản Hà Nội vẽ ra để tuyên truyền, để đề cao ḷng ái quốc, để dụ dỗ người khác noi theo đều không đúng sự thật. Nguyễn Văn Trỗi có chết nhưng không chết anh hùng như Cộng sản vẽ ra. Nữ anh hùng Tạ Thị Kiều cũng chỉ là chuyện thổi pḥng một cách lố bịch để tuyên truyền. C̣n bao nhiêu chuyện khác nữa do các văn thi sĩ Cộng sản nặn ra để đề cao những đảng viên bần cố nông với ḷng yêu nước và sự hy sinh thật là lố bịch chưa từng thấy trong lịch sử anh hùng của dân tộc. Nhưng về quê hương Xuân Vũ cũng được người thân cho biết về chính sách b́nh định ở vùng này cũng như tư cách của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa. Nói về quân cán chính Quốc Gia, một người bà con của Xuân Vũ bảo: “Tụi này hiền mà ác, ác mà hiền... Hiền là nó không bỏ bom bắn phá, nó chỉ dựng sân khấu hát xướng và đi phát thuốc men, gạo vải cho bà con. Cho nên bà con ở yên không ai chạy đi đâu hết. Lại c̣n đi coi hát của tụi nó. Quán xá chợ búa c̣n y nguyên. Nhà ai nấy ở. Chỉ vài ngày nó đă lập được chánh quyền, biến vùng giải phóng thành vùng quốc gia, vậy không phải hiền là ǵ? Cán bộ không phương ǵ giải thích tuyên truyền về “sự tàn ác” của chúng nó. Chúng điều tra rất kỷ những chuyện làm bậy bạ của cán bộ địa phương. Ông nào có vợ bé, ông nào ṃ vợ chủ nhà đóng quân, ông nào rượu chè be bét, cô nữ cán bộ nào có chửa hoang, chúng đều nói trúng ngay trân. Cuối cùng chúng nó hỏi: như vậy giải phóng để làm ǵ? Chưa hết chúng c̣n phân phát một cuốn sách nói về cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc bị đày đi phá rừng đi đập đá làm đường, rồi trên đường Trường Sơn ốm đau chết chóc như thế nào, cuối cùng chúng lại hỏi: giải phóng để làm ǵ? Ở cuối quyển sách có in h́nh mấy chục cán bộ chiến sĩ Nam Bắc hồi chánh. Trong đó có nhiều ông chức lớn lắm. Ở ngoài b́a sách chúng vẽ h́nh cụ Hồ ốm o, chống gậy và đề một câu: Hồ Chí Minh đă ngủm.” (ĐBGG, tr.350-351) .
Sự khác biệt giữa hai chế độ đă quá rơ ràng. Người thông minh như Xuân Vũ không thể không thấy để quyết định lựa chọn con đường sáng sủa tốt đẹp cho ḿnh và thế hệ tiếp theo. Ông đă sáng suốt quyết định trở về với hàng ngũ quốc gia. Ông đă được bác sĩ Hồ Văn Châm, tổng trưởng Chiêu Hồi tiếp và mời giũ chức vụ khá quan trọng, phó giám đốc nha chiêu hồi, trong bộ này. Giám đốc nha là Phạm Thành Tài tức nhà văn Sơn Nam, vốn là chỗ quen biết. Ông Tài đă cho ông hai pḥng lầu, một pḥng riêng, một đống pelure, một bó viết Bic, một cần vụ để có sai ǵ th́ sai. Ông bắt đầu viết “Đường Đi Không Đến”. Và tác phẩm này làm cho ông nổi danh ngay. Ông đă được giải thưởng văn học nghệ thuật năm 1972. “Đường Đi Không Đến” là quyển hồi kư ghi lại kinh nghiệm “đi B” tức là đi trở về miền Nam công tác. Đây là quyển hồi kư quan trọng nhất của Xuân Vũ. Nó được ghi lại trước biến cố lịch sử năm 1975. Nó đánh dấu sự thức tỉnh và chuyển hướng quan trọng trong cuộc đời Xuân Vũ. Và theo tôi đây là tác phẩm có giá trị nhất của ông về phương diện tư tưởng cũng như về nghệ thuật. Dưới ng̣i bút thật linh động Xuân Vũ đă sâu xa phân tích và ghi lại tâm trạng và kinh nghiệm đi B của ông, một kinh nghiệm hết sức kinh hoàng trên con đường 559 tức đường ṃn Hồ Chí minh theo giải Trường Sơn. Nếu không khí chính trị ở Hà Nội lúc ông tập kết ra miền Bắc đă gây cho ông cảm giác đầu tiên là Cộng sản “Kỳ Cục” để ông phải xin trở về Nam liền sau đó, th́ con đường đi B với cảnh “Xương Trắng Trường Sơn” và “Mạng Người Lá Rụng” đă gây cho ông một sự thức tỉnh vô cùng quan trọng. Vấn đề “giá trị của con người,” vấn đề “nhân phẩm” và “nhân quyền,” vấn đề “cúu cánh biện minh cho phương tiện, ” cùng với sự “hy sinh mạng người một cách phi lư,” được đặt ra ở đây trong lúc này. Và tinh thần “nhân bản” được khơi dậy mạnh mẽ khi người ta bắt đầu ư thức về điều kiện giá trị của con người bị chà đạp, ư thức về nhân phẩm/nhân quyền bị tước đoạt, ư thức về sự sống cũng như cái chết đều trở thành phi lư, và ư thức về sự lừa dối trở thành tư tưởng chỉ đạo. “Khi ra đi, tác giả viết, ông chủ nhiệm ủy ban thống nhất – trung tướng Nguyễn Văn Vịnh có đến gặp chúng tôi và bảo rằng đoàn chúng tôi về đến nơi sẽ có Chính Phủ Liên Hiệp! T́nh h́nh sáng sủa hơn bây giờ nhiều. Như vậy ai mà nằm lại cho được. C̣n một gị cũng phải nhắc c̣ c̣ đi tới chớ.” (Đường Đi Không Đến, tr. 18). Lời hứa của chính quyền cộng sản không khác ǵ h́nh ảnh của mớ cỏ non và con ngựa già nua của ông lăo đánh xe rất quen thuộc với tác giă từ lúc nhỏ : “Để lợi dụng cái sức lực c̣n lại trong con vật, lăo già đă nghĩ ra một cách có vẽ nhân đạo hơn. Lăo ta buộc một mớ cỏ non trên đầu cần câu và buộc chiếc cần câu dọc theo gọng xe. Mỗi lần con ngựa bị mắc vào xe, nó cứ nh́n thấy cái mớ cỏ non đó nhảy múa trước mặt nó, tưởng chừng nó có thể ngoạm được và nhai ngấu nghiến đi ngay. Nhưng tội nghiệp, con vật ngây thơ, cố ngay xương sống ra kéo chiếc xe đầy khách, mong rút ngắn cái khoảng cách giữa cái mồm nó và mớ cỏ. Cái mớ cỏ vẫn nhảy múa trước mặt nó, quyến rũ vô cùng, giuc nó chạy tới, chạy nhanh tới. Con vật ngây thơ vẫn cố sức phi tới với chút sức tàn, mong đớp được mớ cỏ. Có bao giờ lăo chủ xe lại giải thích cho con vật thân yêu của lăo v́ sao nó chạy hoài mà không ngoạm được mớ cỏ?” (Thay Lời Tựa Đường Đi Không Đến). Con đường vào Nam dọc theo Trường Sơn vô cùng nguy hiểm, vất vả. Tác giả đă chứng kiến bao nhiêu cảnh chết chóc đau thương, bao nhiêu cảnh bệnh hoạn, đói khát, bao nhiêu người sống lê lết không c̣n mang tính con người nữa. Họ như con ngựa kiệt sức của ông lăo xe ngựa, cứ cố sức vươn lên, cố sức với tới mớ cỏ treo trước mắt như một hứa hẹn không bao giờ đạt được. Đói, khát, ốm đau, bom đạn, thiên tai, xảy ra thường xuyên trên con đường này. Người ta trở nên ích kỷ, bần tiện, không chia nhau một chút muối, dấu kỷ một chút đường, tiện tặn từng hạt gạo. Con người không c̣n là con người nửa. Trong một cơn đau tác giả đă phải trải qua một tâm trạng vô cùng bi đát. Hăy nghe tác giả kể : “Tôi nh́n ra trời. Thấy ǵ đâu, một màu đen dày đặc... Tôi thấy tôi bé lại như một hạt mưa rơi xuống từ vô tận, vỡ tan ra và trôi theo cái ḍng nước sôi ấy. Và đời tôi đâu c̣n biết bám tựa vào dâu nữa...Hai tiếng Văn Điển đến với tôi trong lúc này thật là điều không hay ho chút nào. Bởi nó gợi lên cho tôi cái tên của một băi tha ma: nghĩa trang Văn Điển. Cái khí lạnh của Trường Sơn cùng với cái khí âm của nghĩa trang Văn Điển đè nặng, vây riết lấy tôi. Hiện lên trước mặt tôi hằng ngàn ngôi mộ với những tấm mộ bia cái thấp cái cao, cái mới cái củ, cái xanh cái vàng. Đó là nơi gửi xương gửi thịt của một số cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc. Ngoài đó những người bịnh tật hoặc có tuổi hết mong ngày về xứ thường than thở với bạn bè : “Chắc tao phải ở lại Văn Điển rồi!” Tôi th́ tôi không phải ở lại Văn Điển nhưng tránh khỏi cái Văn Điển của Hà Nội, tôi lại phải nh́n thấy cái Văn Điển của Trường Sơn, cái thứ Văn Điển không có mộ bia và không có khói hương trống kèn, hay nói đúng ra Trường Sơn giờ đây đă trở thành một Văn Điển kéo lê thê hằng ngh́n cây số.” (ĐĐKĐ, tr. 86-88). Người ta, hay đúng ra người cộng sản nhân danh cái ǵ để xô đẩy hằng muôn vạn người đi vào tử đạo này? Marx bảo “con người là quư nhất,” vậy mà chủ nghĩa cộng sản Mác-Lê ở đây có xem con người ra ǵ đâu. Năm Cà Dom trong ĐĐKĐ nói một cách mỉa mai: “Tựu trung con người cũng chỉ là một con vật đi hai chân thôi, nhất là trên con đường này.” (nt., tr. 456). Chủ trương “cứu cánh biện minh cho phương tiện” mà cộng sản đă triệt để lạm dụng là một chủ trương hết sức phi nhân. Nó chà đạp lên nhân phẩm của con người, nó tước đoạt hết nhân quyền, nó đày đọa con người vào cái chết vô cùng phi lư. Gần đến cuối đoạn đường chết chốc, tác giả chán nản ghi : “Tôi tự thú nhận với tôi rằng tôi đă nản chí, tôi không c̣n muốn phấn đấu nữa...Tôi nhớ lại lời của Lâm một chiều mưa. Câu nói ấy cứ thỉnh thoảng lại vang lên trong tâm trí tôi. Bây giờ, cùng với cái t́nh huống nguy ngập này, nó lại trở lại với tôi như một người bạn, như một kẻ thù, như một sự vuốt ve như một lời hăm dọa: “Lần đầu tiên tao cảm thấy tao đi không đến nơi.” Đối với tôi hôm nay, đây không phải là lần đầu tiên tôi cảm thấy điều đó. Mà điều đó là cái điều tôi thấy thường xuyên khi tôi ăn cơm, mỗi khi tôi lên cơn sốt... “Nhưng đến đây, bên bờ con suối đầy dẫy những đau thương vô lư, tôi lại cảm thấy tôi góp vào đó một sự đau thương và vô lư bằng cả cái con người tôi.” (nt., tr. 457-458). Thân phận phi lư của con người cũng như sự sử dụng con người như những phương tiện được thấy lại trong “Đến Mà Không Đến” của tác giả: “Thân phận con người trở thành nhỏ bé, vô nghĩa. (Bây giờ ngồi viết những ḍng này, nh́n lại cái đoạn đường Chó Ngáp, tôi chợt nghĩ: Đảng Việt Cộng đă dắt nhân dân ta đi qua nhiều đồng chó ngáp mà rồi không đến đâu cả.)” (ĐMKĐ, tr.279-280). Thật là một hy sinh phi lư! Thật là một chủ trương phi nhân! Con người không phải là con vật, con người không thể được dùng làm phương tiện để biện minh cho bất cứ một cứu cánh nào. Con người là một thực thể có tri thức, có t́nh cảm, có hoạt động, có nhu cầu, có ước vọng, có giá trị của con người. Hăy cho con người có quyền tự do, có quyền làm người. Đừng chà đạp lên nhân phẩm, đừng tước đoạt nhân quyền, hăy trả lại cho con người giá trị thật sự của con người. Đó là thông điệp của Xuân Vũ qua bộ hồi kư của ông. Và qua thông điệp này ông thật là một nhà văn lớn không những cho người dân Nam Bộ mà cho cả người dân Việt, hay đúng ra không phải cho riêng người Việt Nam mà cho con NGƯỜI nói chung viết bằng một chữ N hoa. Đối với nhà văn lớn này, nhà văn Lăo Thành Xuân Tước có đề nghị là chúng ta, những người thương kính Xuân Vũ, hăy thiết lập một cái quỹ mang tên “T̀NH THƯƠNG XUÂN VŨ,” (hay XUAN VU FOUNDATION) để vinh danh nhà |