|
Chủ Tịch
GS NGUYỄN
THANH LIÊM
Cố Vấn
GS Doăn Quốc Sỹ
GS Phạm Cao Dương
GS
Trần Huy Bích
Ban Biên Tập
Việt Hải
Phong Vũ
Châu Văn Để
Lưu Vĩnh KHương
Trang Điền
Thủ Quỹ
Ngọc Mai
Liên lạc
Lê Văn Duyệt Foundation:
419 Bali Street
Santa Ana, CA 92704
(714) 775-1522
E-mail:
Dongnaicuulong@gmail.com
|
BÀ RỊA -VŨNG TÀU
VÙNG ĐỊA ĐẦU BIÊN TRẤN
Nguyễn Thanh Liêm
Miền Nam nước Việt, xứ Nam Kỳ
Lục Tỉnh xưa, hay là vùng Đồng Nai Cửu Long rộng lớn ngày nay, với đất đai
ph́ nhiêu, đời sống thịnh vượng, tiến bộ nhất của nước Việt Nam, chỉ mới
được chánh thức thành h́nh từ cuối thế kỷ XVII. Nhưng sự tiến vào miền Nam
khai phá lập nghiệp của người lưu dân Việt th́ thật sự đă bắt đầu từ hơn thế
kỷ trước, và nơi đầu tiên người Việt đặt chân đến là vùng Mô Xoài, tức vùng
Bà Rịa bây giờ. Chúng tôi xin bắt đầu loạt bài về các tỉnh vùng Đồng Nai Cửu
Long bằng khởi điểm Bà Rịa Vũng Tàu.
Bà Rịa và Vũng Tàu là những địa danh rất quen
thuộc đối với đa số người Việt ở Miền Nam. Trên đường từ Sài G̣n đi Vũng Tàu
chúng ta phải đi qua hai tỉnh Biên Ḥa và Phước Tuy. Dưới thời Pháp thuộc,
tỉnh Phước Tuy là tỉnh Bà Rịa, và Bà Rịa xưa kia được gọi là Mô Xoài.
Mô Xoài là nơi mà người Việt đă đến khai phá,
định cư sớm nhất so với các nơi khác ở Miền Nam. Đại Nam Nhất Thống Chí
triều Nguyễn cho rằng xứ Mô Xoài là vùng địa đầu của Biên Trấn, tức là vùng
người lưu dân Việt đầu tiên đặt chân vào để khai phá mở mang Miền Nam nước
Việt. Năm 1621 khi sứ thần cùng đoàn quân tùy tùng đưa Ngọc Vạn công chúa,
con gái thứ hai của Chúa Sải, Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), về Oudong
(Campuchia) theo chồng là vua Chey Chetta II của Chân Lạp th́ lưu dân người
Việt từ các tỉnh miền Trung đă có mặt ở Mô Xoài (tức Bà Rịa) rồi. Theo chân
Ngọc Vạn công chúa, lưu dân người Việt càng ngày càng vào Nam lập nghiệp
nhiều hơn. Về phương diện chính trị ngoại giao, cuộc hôn nhân của công chúa
Ngọc Vạn với vua Chey Chetta II là bước mở đầu cho mối liên hệ ngoại giao
giữa hai dân tộc Việt-Khờ Me và về phương diện xă hội nó cũng được xem như
là một sự mở đầu cho những bành trướng lănh thổ quy mô về phương Nam của dân
tộc Việt. Sử Khờ Me ghi là sau khi lên ngôi vua Chey Chetta II cho xây cung
điện nguy nga tại Oudong rồi cử hành lễ cưới long trọng với một nàng công
chúa xinh đẹp của Việt Nam. Hoàng hậu Sam Đát (tức công chúa Ngọc Vạn) có
đem nhiều đồng hương sang Campuchia. Có người làm quan trong triều, có người
làm thủ công, có người buôn bán, vận chuyển hàng hóa. Theo hồi kư của giáo
sĩ Chistofo Borri, một người Ư đă sống gần Qui Nhơn từ 1618 đến 1622, th́
chúa Nguyễn đă viện trợ cho vua Chân Lạp (Campuchia) cả tàu thuyền lẫn binh
lính để chống lại quân Xiêm. Borri cũng tả rơ phái đoàn quan quân Việt Nam
đưa công chúa Ngọc Vạn về Oudong như sau: „Sứ bộ gồm khá đông người, cả
quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có
trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh Oudong, th́ dân
chúng Khờ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa đă tụ hội đông đảo
để đón tiếp và hoan nghênh.“ Hai năm sau, 1623, chúa Nguyễn sai phái bộ
tới Oudong yêu cầu vua Chey Chetta II cho chúa Nguyễn lập hai đồn thu thuế
tại Prei Nokor (Sài G̣n) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng qua lại và
nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Campuchia. Từ khi có các đồn thu thuế
của chúa Nguyễn, vùng này đă trở nên vùng thị tứ trên bến dưới thuyền rất là
sầm uất.
Trước khi người Việt đến Mô Xoài khai phá, th́
nơi đây c̣n là cả một vùng „toàn rừng rậm mấy ngh́n dặm“ theo sự ghi chú của
Lê Quư Đôn trong Phú Biên Tạp Lục. Vùng rừng rậm hoang vu này là vùng cư trú
của nhóm thiểu số người Mạ mà hiện giờ có khoảng hơn 20 ngàn người sinh sống
trên vùng rừng núi Tây Bắc Nam phần. Từ sau ngày Ngọc Vạn công chúa được gả
về Campuchia vùng Mô Xoài đă trở nên vùng tuyến đầu quan trọng của người
Việt trong quá tŕnh tiến về phương Nam. Dân tộc Mạ hay Châu Mạ (Châu theo
tiếng Mạ có nghĩa là người) nói tiếng gốc Mă Lai. Địa bàn sinh sống của Châu
Mạ ngày xưa là cả vùng Đồng Nai xuống đến Mỹ Tho. Đất th́ quá rộng mà người
th́ quá ít cho nên dân cư quá thưa thớt, và phần lớn đất đai là rừng rú
hoang vu đầy muôn thú. Khi người Việt bắt đầu vào khai khẩn đất hoang vùng
Mô Xoài th́ người Mạ từ từ rút lui dần, nhường đất cho người lưu dân mới đến
khai phá. Đến giữa thế kỷ XVII người Mạ c̣n sinh sống ở vùng phía Bắc Bà
Rịa, Bắc Biên Ḥa dài lên Long Khánh, Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Nhưng biết và nói đến vùng Bà Rịa xưa nhất là
người Trung Hoa. Vào cuối thế kỷ XIII, Châu Đạt Quan khi đi theo đoàn sứ giả
Trung Hoa đến thăm nước Chân Lạp, có ghi một đoạn như sau về vùng Bà
Rịa-Vũng Tàu trong quyển „Chân Lạp phong thổ kư“ của ông: „Chúng tôi vượt
biển Thất Châu Dương (tức Biển Đông) đi ngang biển Giao Chỉ dương đến xứ
Chiêm Thành. Ở đấy nhờ gió thuận, trong ṿng 15 ngày ta có thể đến thị trấn
Chân Bồ, đó là biên giới xứ Chân Lạp.“ Nhiều học giả Việt Nam cho rằng
Chân Bồ là một thị trấn vùng Bà Rịa-Vũng Tàu.
Vào thế kỷ XVII người Aâu Châu đă có qua lại
vùng Bà Rịa Vũng Tàu. Ông Phan Phát Huờn trong quyển „Việt Nam giáo sứ“ có
nói đến trường hợp của giáo sĩ Gaspar de Santa Cruz đi từ Malacca đến Hà
Tiên, ở Hà Tiên một thời gian ngắn rồi tới Bà Rịa để xuống tàu sang Quảng
Châu. Như vậy Bà Rịa đă từng là nơi dừng chân của nhiều tàu buôn trên đường
từ Aâu Châu sang Trung Quốc. Trên bản đồ hải tŕnh của các nước Âu Châu như
Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, đều có ghi Vũng Tàu như một nơi dừng chân của các tàu
trên dường viễn dương.
Năm 1698 thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh
của Chúa Nguyễn vào Nam kinh lược. Nguyễn Hữu Cảnh „lấy đất Nông Nại đặt làm
phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập
xứ Sài G̣n làm huyện Tân B́nh, dựng dinh Phiên Trấn... Đất đai đă mở rộng
ngàn dặm, dân số hơn bốn vạn hộ.“ Phần đầu của Nam Kỳ Lục Tỉnh được thành
h́nh. Đây là lần đầu tiên người Việt chính thức đặt nền hành chánh cai trị
trên các vùng có người Việt định cư. Lúc này Mô Xoài/Bà Rịa nằm trong huyện
Phước Long của xứ Đồng Nai. Thời Minh Mệnh với Nam Kỳ gồm Lục Tỉnh, th́ phủ
Phước Tuy (Bà Rịa) thuộc tỉnh Biên Ḥa gồm các huyện Phước An (Mô Xoài),
huyện Long Thành và huyện Long Khánh.
Trong Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức
nói về Bà Rịa như sau:
„Bà Rịa ấy là đầu địa giới
trấn Biên Ḥa là đất danh tiếng, cho nên các phủ miền Bắc có ngạn ngữ rằng
„Cơm Nai, Rịa, cá Rí, Rang“, là v́ lấy Đồng Nai - Bà Rịa là đầu mà bao gồm
cả Bến Nghé, Sài G̣n, Mỹ Tho, Long Hồ ở cả trong đó. Đất ấy lưng ở dựa núi,
mặt nh́n biển, rừng rậm tre dài, ở trên có trường tuần để vời gọi những
người Man Mạch đến dỗi chác, ở dưới có cửa bến, để xét hỏi ghe thuyền ra
biển, trạm thủy, trạm bộ giao tiếp nhau, việc cung nộp lâm sản chống trị
người Đê, người Mọi, bắt bớ giặc cướp, th́ có huyện nha đạo thủ chia nhau
làm việc, vốn là nơi bận rộn khó nhọc bậc nhất. Có nhiều cửa quan hiểm yếu,
có thành tŕ xưa di chỉ hăy c̣n, như là quốc đô của vua nào vậy. Xét Bà Rịa
là đất Lục Chân Lạp xưa. Khảo sách Tân Đường thư nói: „Nước Bà Lỵ ở thẳng
phía đông nam Chiêm Thành, từ cửa biển Giao Châu vượt biển trải qua các nước
Xích Thổ, Đan Đan mới đến. Đất ấy có băi rộng, nhiều ngựa, cũng gọi tên là
Mă Lễ. Tục hay xâm lỗ tai đeo ngọc, dùng một mảnh vải cát bối [vải bông g̣n]
cuống ngang lưng. Phía Nam có nước Thù Nại, sau đời Vĩnh Huy bị nước Chân
Lạp thôn tính“. Cứ đó mà nói, th́ ước lược cũng giống tục của người Cao Mên,
người Đê, người Mọi ngày nay, mà đất cũng dáng như thế. Tra ở sách Chính
Vận, chữ lỵ âm lực địa thiết, ngờ Bà Rịa tức là nước Bà Lỵ xưa chăng mà Thù
Nại lại cùng với tiếng Đồng Nai, Nông Nại nghe hơi giống nhau, hoặc nay là
đất Sài G̣n chăng? Tạm chép phụ ở đây để chờ những bực học rộng sau này khảo
biên.“
Sang thế kỷ XVIII đă có nhiều người Việt Nam
vùng Bà Rịa, Đất Đỏ, theo đạo Thiên Chúa. Danh mục các họ đạo của tỉnh Đồng
Nai có ghi địa danh Bà Rịa hồi năm 1747 có được 140 giáo dân và Đất Đỏ 350
giáo dân. Một người theo Thiên Chúa giáo, gốc Bà Rịa, đă rất nổi tiếng trong
buổi đầu của nền văn học chữ Quốc Ngữ là Paulus Huỳnh Tịnh Của. Paulus Huỳnh
Tịnh Của và Petrus Trương Vĩnh Kư là hai người đầu tiên mở đầu cho nền văn
chương chữ Quốc Ngữ. Cả hai ông đều là người theo Thiên Chúa giáo, đều được
học chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ rất sớm, và đều có những công tŕnh viết lách,
soạn thảo bằng chữ Quốc Ngữ quan trọng đầu tiên ở Việt Nam. Nhà bác học
Petrus Kư là người Vĩnh Long, rất nổi tiếng về những công tŕnh của ông đối
với văn học, báo chí và học thuật mới ở buổi giao thời. Tên ông đă được dùng
đặt cho trường trung học lớn nhất và nổi tiếng nhất ở miền Nam, đó là trường
Petrus Trương Vĩnh Kư. Paulus Của là người Bà Rịa, tuy không được nổi tiếng
bằng Petrus Kư nhưng cũng có công tŕnh soạn thảo đáng kể là bộ Quốc Âm Tự
Vị.
Dưới thời Pháp thuộc, Bà Rịa là
một tỉnh trong số 20 tỉnh ở Nam Kỳ. Trước 1945 người ta ghép chữ đầu của 20
tỉnh thành bài thơ sau đây cho dễ nhớ:
GIA, CHÂU, HÀ, RẠCH, TRÀ
SA, BẾN, LONG, TÂN, SÓC.
THỦ, TÂY,
BIÊN, MỸ, BÀ,
CHỢ, VĨNH,
G̉, CẦN, BẠC, và
Sau đó thêm CẮP.
Đó là các tỉnh:
Gia Định, Châu Đốc, Hà Tiên,
Rạch Giá, Trà Vinh,
Sa Đéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân
An, Sóc Trăng.
Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Ḥa,
Mỹ Tho, Bà Rịa,
Chợ Lớn, Vĩnh Long, G̣ Công, Cần
Thơ, Bạc Liêu.
và Cap Saint Jacques (tức là
Vũng Tàu).
Lúc này tỉnh Bà Rịa gồm 5 tổng Việt là An Phú
Hạ, An Phú Tân, An Phú Thượng, Phước Hưng Hạ, Phước Hưng Thượng, và 2 tổng
Thượng là Cơ Trạch và Nhơn Xương. Thời Việt Nam Cộng Ḥa, tỉnh Bà Rịa được
mệnh danh là tỉnh Phước Tuy. Hiện giờ Bà Rịa và Vũng Tàu được sát nhập làm
thành tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Vũng Tàu nằm sát bên Bà Rịa,
cách tỉnh lỵ Bà Rịa 22 km. Vũng Tàu xưa gồm có ba làng Thắng Nhất, Thắng
Nh́, và Thắng Tam, cả ba đều bắt đầu bằng chữ Thắng. Cho nên cũng có khi
người ta gọi vùng này là vùng Tam Thắng. Về nguồn gốc của ba làng mang tên
Thắng này ông cha chúng ta ngày xưa có hai giả thuyết khác nhau. Giả thuyết
thứ nhất nói rằng sau khi thống nhất đất nước, Gia Long cho một số quân sĩ
dẫn theo một số người thuộc thành phần bất hảo đối với triều đ́nh thời đó và
những người không có công ăn việc đi trên ba chiến thuyền vào Nam, khẩn
hoang lập nghiệp. Ba chiếc chiến thuyền này đă cặp bến Vũng Tàu, định cư ở
ba nơi. Họ đă thành công trong việc khai phá mở mang vùng đất Vũng Tàu, và
lập thành ba làng lấy tên là Thắng Nhất, Thắng Nh́ và Thắng Tam. Bên cạnh
giả thuyết này c̣n có một giả thuyết khác cho rằng ngày xưa ở vùng biển Vũng
Tàu thường có bọn cướp biển Mả Lai đến đây đánh cướp các thuyền buôn Việt
Nam từ miền Trung và miền Bắc vào Sài G̣n. Chúng cướp hết của tiền, hàng hóa
và có khi bắt cả người nữa. Triều đ́nh Nguyễn phái ba chiến thuyền vào đây
để tiễu trừ bọn cướp. Ba người điều khiển ba chiến thuyền đó là ba vị đội
trưởng có tên là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Cả ba đă hoàn
toàn thành công trong việc bài trừ bọn cướp biển. Ngoài công tác an ninh, họ
cũng đă thành công lớn lao trong việc định cư, khai phá, mở mang vùng đất
Vũng Tàu. Họ đă thành lập ba làng mang tên Thắng. Để tưởng thưởng công lao
của họ, năm 1822 vua Minh Mệnh sắc chiếu ban khen cho ba người nói trên, cho
họ được giải ngủ, được lập làng làm chủ những đất đai họ khai phá, và cho
các làng này được miễn thuế trong ba năm. Đội trưởng Phạm Văn Dinh xây dựng
làng Thắng Nhất, đội trưởng Lê Văn Lộc làng Thắng Nh́ và đội trưởng Ngô Văn
Huyền làng Thắng Tam. (Theo tác giả Huỳnh Minh trong quyển Vũng Tàu Xưa).
Trước 1895 Vũng Tàu nằm trong
một quận của tỉnh Bà Rịa. Từ năm 1895 Vũng Tàu được tách khỏi Bà Rịa để trở
thành tỉnh riêng. Vũng Tàu ở cách Sài G̣n 125 km, nằm sát bên tỉnh Bà Rịa, ở
về phía Tây Nam của Bà Rịa. Vũng Tàu có biển Nam Hải bao quanh ở phía Nam.
Vũng Tàu có vị trí vô cùng quan trọng đối với sự giao thông trên mặt biển
của vùng Đông Nam Á, cũng như của hai châu Âu, Á. Vũng Tàu không hay chưa
phải là một hải cảng nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài G̣n, mà Sài G̣n từ lâu
nay là một thương cảng vô cùng quan trọng đối với các tàu bè từ Âu Châu sang
Á Đông và ngược lại. Hầu hết các tàu buôn từ Aâu Châu qua Nhật Bản, Hồng
Kông, Đài Loan, Phi Luật Tân đều có ghé qua Sài G̣n. Trên đường đi ngược lại
cũng vậy, Sài G̣n vẫn là nơi dừng chân của các tàu buôn viễn dương. Muốn vào
thương cảng Sài G̣n bằng đường biển người ta phải qua cửa ngỏ Vũng Tàu.
Nhờ có những băi biển đẹp, lại ở
gần Thủ Đô Sài G̣n nên từ xưa Vũng Tàu đă là nơi nghỉ mát, hay tham quan của
du khách, của những khách sang trọng cùng với dân có tiền ở vùng Sài G̣n Chợ
Lớn và vùng phụ cận. Từ Băi Trước (hay Băi tắm Tầm Dương), qua Băi Dứa, đến
Băi Ngênh Phong (Ô Quắn), từ Băi Sau (hay Băi Thùy Vân) đến Băi Dâu (tức băi
Phương Thảo), Vũng Tàu đă thu hút hàng vạn du khách về đây nghỉ mát trong
những ngày cuối tuần. Vừa là chốn nghỉ mát đông đảo, rần rộ, Vũng Tàu cũng
là nơi yên tĩnh, an toàn cho những chính khách và các nhà tu. Từ xưa Vũng
Tàu đă từng là nơi giúp vua Gia Long t́m nước ngọt để sống sót trong những
ngày bị quân Tây Sơn rượt đuổi ráo riết. Đầu thời Pháp thuộc Vũng Tàu đă có
Bạch Dinh để làm nơi nghỉ mát cho quan toàn quyền. Cũng trong thời Pháp
thuộc Vũng Tàu đă từng là nơi an trí của các nhà vua cách mạng triều Nguyễn
như Thành Thái, Duy Tân. Đến giữa thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa, Thủ Tướng
Trần Văn Hương (hồi làm Thủ Tướng lần thứ nhất) cũng có dịp được an trí ở
đây một thời gian ngắn. Đặc biệt là các tôn giáo cũng đă t́m thấy ở nơi đây
là nơi tôn nghiêm thanh tịnh rất tiện lợi cho sự tu dưỡng, phát triển tôn
giáo. Nhiều nhà thờ, chùa, phật đường, tịnh xá có tiếng đă được dựng lên ở
Vũng Tàu. Phật giáo có Phật Đài Thích Ca, một địa điểm hành hương nổi tiếng,
có Chùa Tịnh Độ Cư Sĩ, có Tịnh Xá Ngọc Hương, có ba ngôi Phật Bửu Tự của
giáo hội Thiền Tịnh Đạo Tràng, bên Thiên Chúa giáo có Đài Đức Mẹ ở Băi Dâu,
nơi quy tụ rất đông du khách và giáo dân.
Bà Rịa-Vũng Tàu là một kết
hợp đặc biệt. Hai nơi này sát
cánh bên nhau về địa lư, lại có những vai tṛ lịch sử gắn liền tiếp nối với
nhau. Nếu Bà Rịa là điểm bắt đầu của cuộc mở mang bờ cơi về phương Nam th́
Vũng Tàu là nơi có rất nhiều tiềm năng phát triển lớn lao cho vùng này trong
những ngày sắp tới.
|
Trang chính
Viễn Xứ magazine
Văn Đàn ĐồngTâm
Trang Việt Hải |