![]() |
||
|
Ban Biên Tập
Liên lạc
419 Bali Street (714) 775-1522
|
CÙ LAO PHỐ Trong lịch sử mở rộng bờ cơi đất nước Việt Nam, cuộc Nam Tiến đă thật sự thành công khi vùng đất Đồng Nai-Gia Định đă được tiền nhân gia công củng cố phát triển. Từ nơi đây, một đầu cầu vững chắc đă được h́nh thành, để từ đó bung ra khai thác toàn vùng đồng bằng Sông Cửu. Vùng đất miền Nam đă thành h́nh trong lịch sử Việt Nam chỉ vào khoảng 400 năm, kể từ thế kỷ XVII. Trước thế kỷ thứ VI, đây là một vùng đất hoang vu thuộc Vương quốc Phù Nam. Trường Viển Đông Bác Cổ, sau cuộc khám phá các di tích ở Óc Eo, vùng núi Ba Thê (Châu Đốc) năm 1944 đă gọi thời này là nền văn minh Óc Eo. Sau thế kỷ thứ VI, sắc tộc Kambuja từ miền Bắc tràn xuống đă phá tan vương quốc Phù Nam và thành lập vương quốc Chân Lạp. Vương quốc Chân Lạp đă nổi tiếng v́ sự nghiệp xây dựng một kỳ công kiến trúc: đền đài Angkor vào thế kỷ XII! Vương quốc Chân Lạp đă suy yếu v́ những cuộc tranh dành nội bộ cộng với sự lấn chiếm của lân quốc Xiêm. Họ đă phải ba lần dời đô, từ bỏ Angkor để qua Oudong và sau cùng dừng lại ở Phnom Penh. Năm 1620, với ư định t́m đồng minh liên kết để chống trả vương quốc Xiêm, vua Chey Chetta II đă đến đất Thuận Hóa, xin cầu hôn cưới công chúa Nguyễn Ngọc Vạn, con của chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên. Công chúa Ngọc Vạn đă trở thành Hoàng hậu Ang Cuv hay Sam Đát đất Chân Lạp. Chuyện cưới gả này cũng là dịp để Chúa Nguyễn có thêm được tiềm lực tài nguyên trong cuộc phân tranh với chúa Trịnh ở Bắc. Cuộc Nam Tiến đă thực sự khởi tiếp để kết thúc ở miền Nam nhờ ở sự kết hôn của công chúa Ngọc Vạn. Việc này cũng có thể coi như sự lập lại của lịch sử trước kia, khi nhà Trần gả công chúa Huyền Trân về vương quốc Chàm để lấy đất hai châu Ô, Rí! Tháp tùng công chúa Ngọc Vạn là một số tùy tùng thân tín theo để phục vụ. Lịch sử ghi nhận công chúa Ngọc Vạn, nay là hoàng hậu Sam Đát đă xử sự rất khéo và rất được ḷng hoàng tộc Chey Chetta. Sau cuộc hành quân năm Mậu Tuất (1658) của chúa Nguyễn Phước Nguyên vào Môi Xuy (Bà Rịa), vua Nặc Ông Chân mới chịu thuần phục Chúa Nguyễn và đồng ư cho người Việt đến sinh sống trên đất ḿnh. Chúa Nguyễn lại khuyến khích dân Thuận Quảng di vào đất Chân Lạp khẩn hoang, lập ấp, biến miền đất hoang phế, ít ỏi dân cư này càng ngày càng thêm trù phú. Năm 1679, một sự kiện mới lại làm cho cuộc Nam Tiến đợt này thêm phần đột khởi: cuộc di dân của hơn ba ngàn quan binh Trung Hoa, gốc Quảng Đông- Phước Kiến, trung thành với Minh triều, không chấp nhận sống dưới triều Măn Thanh. Xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền, họ đă đến xin chúa Nguyễn Phúc Tần chấp nhận cho nơi cư trú. Chúa Nguyễn ưng thuận cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này đă chia làm hai: một nhóm do tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An B́nh hướng dẫn đă chọn vùng Đồng Nai- Gia Định để khai khẩn. Nhóm thứ hai do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến chỉ huy đă tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho- Cao Lănh làm đất dung thân. Trần Thượng Xuyên và các bộ hạ đă chọn vùng Cù Lao Phố để thành lập và phát triển thành Nông Nại Đại Phố, một thương cảng sầm uất, tấp nập thương thuyền buôn bán với người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ, Mă Lai, Nam Dương... Là một cấp chỉ huy có tầm nh́n xa, Trần Thượng Xuyên đă thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp v́ thuận lợi giao thông thủy bộ. Ông đă huy động sức người và của cải để thương cảng Nông Nại Đại Phố thành một trung tâm thương mại danh tiếng vào bậc nhất ở phương Nam vào thời bấy giờ. Khúc sông Đồng Nai, vùng Cù Lao Phố từ đó, đă được biết với danh xưng mới: Sông Phố. Cù Lao Phố mang nhiều tên gọi khác nhau. Ngoài tên Nông Nại Đại Phố, c̣n có các tên: Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Băi Rồng. Đối với người dân đất Đồng Nai hiện nay, Cù lao Phố là một địa danh quen thuộc, mọi người đều biết. Đây là một ḥn đảo phù sa, nằm gọn giữa hai cánh tay sông Đồng Nai. Quốc lộ số 1 ngày trước cũng như đường xe lửa xuyên Việt đều băng qua cù lao này, qua hai chiếc cầu: Cầu Gành bốn nhịp về phía Nam và Cầu Rạch Cát về hướng Bắc. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đă ghi nhận cảnh phồn thịnh của Cù Lao Phố ngày trước như một nơi hưng thịnh, thu hút nhiều cư dân đến từ miền Trung. Nhà mái ngói, tường vôi, lầu cao, quán rộng. San sát bên bờ sông là các nhà gổ hai từng, nối liền năm dậm. Ngoài việc xây cất nhà cửa, chợ búa, phát triển các nghề trồng trọt, thủ công nghiệp, Trần Thượng Xuyên c̣n cho xây ba loại đường rộng, bằng phẳng, đến nay vẫn c̣n. Con đường giữa theo chiều dài cù lao lót đá ong đỏ, dài độ 4 km, từ chùa Đại Giác đến bến đ̣ Kho. Đường thứ hai, xây ngang cù lao, lót đá trắng chặt con đường giữa cạnh chợ Hiệp Ḥa đi đến bến đ̣ Tân Vạn. Con đường thứ ba, lót đá xanh bao quanh cù lao th́ h́nh như đă biến mất dạng, nay chỉ c̣n vài dấu tích. Trần Thượng Xuyên ngoài biệt tài tổ chức khai khẩn vùng đất hoang vu thành một thương cảng phồn thịnh, lại cũng là một dũng tướng đă giúp Chúa Nguyễn trong nhiều trận đánh dẹp Cao Miên, mở rộng biên cương miền Nam. Năm 1690, ông đă cùng với Mai Vạn Long đánh bại và bắt được Nặc Ông Chân, chiếm Nam Vang, G̣ Bích, Cầu Nam. Năm 1700, ông đă giúp Nguyễn Hữu Cảnh tiến đánh vua Chân Lạp lần thứ hai. Sau cuộc hành quân này, biên cương Đàng Trong đă được mở rộng thêm từ Biên Trấn, Phiên Trấn đến tận Định Tường, Long Hồ và An Giang. Năm 1715 ông cùng với Nguyễn Cửu Phú đánh Nặc Ông Thâm và chiếm được thành La Bích. Chúa Nguyễn đă ban cho ông danh hiệu „Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt“. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được phong Thượng đẳng thần, được tôn thờ ở đ́nh Tân Lân, xây bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Ḥa. Hằng năm dân chúng vùng này vẫn lấy ngày ông mất tức 23 tháng 10 âm lịch để làm ngày giổ Đức Ông. Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn mở mang bờ cơi miền Nam, phải nhắc đến Nguyễn Hữu Cảnh. Năm 1698, Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược phương Nam. Viên Thống suất này đă chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại bản doanh này, ông đă thiết lập cơ sở hành chánh, ổn định đời sống dân chúng bằng cách tổ chức phủ, huyện, tổng, xă, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đă giúp cho Chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi thu thập. Ông đă có sáng kiến khuyến khích dân chúng các miền Quảng Nam, Quảng Ngăi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, thành lập nhiều làng mạc trù phú. Những nghề thủ công đă phát triển mạnh như đúc đồng, làm đồ gốm, đồ mộc, nấu đường.v.v..., những loại hàng hóa được các thương thuyền ngoại quốc ưa chuộng, thu mua xuất cảng. Tháng 7 năm 1699, Nặc Thu, vua Chân Lạp chống chúa Nguyễn. Nguyễn Hữu Cảnh đă được cử đi đánh dẹp, khiến Nặc Thu phải xin hàng phục vào tháng 4 năm 1700. Sau khi chiến thắng, trên đường rút về, khi đóng quân ở cồn Cây Sao (về sau được gọi là Cù lao Ông Chưởng, An Giang), ông lâm trọng bịnh và đă mất khi về đến Rạch Gầm. Linh cữu được đưa về bản doanh Cù Lao Phố và an táng ở thôn B́nh Hoành, nay được đổi tên thành thôn B́nh Kính. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, được dân địa phương gọi là Đ́nh B́nh Kính, nằm gần Quốc lộ 1, giữa Cầu Gành và Cầu Rạch Cát, mặt tiền day xuống ḍng Đồng Nai. Hằng năm, ngày 16 tháng 5 âm lịch là ngày giổ được long trọng tổ chức để ghi ơn của một công thần khai quốc. Danh ông đă được dân gian miền Nam đời đời ghi nhớ qua câu hát ru em: „Bao phen quạ nói với diều: Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá, tôm“ Việc Trần Thượng Xuyên cầm binh giúp Chúa Nguyễn lại trở thành một tai họa khi xăy ra cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Trong khoảng những năm 1776- 1779, Cù Lao Phố đă bị tàn phá trong các cuộc giao tranh. Nhà cửa, tiệm buôn, phố xá, kho chứa hàng đều bị thiêu đốt. Đường xá bị đào bới, các cơ sở thủ công tan tành. Dân chúng bị tàn sát, thây lấp hết gịng sông quanh cù lao, nước đỏ ngào v́ máu. Đến cả tháng sau, những người sống sót không ai dám dùng nước ở sông v́ ô nhiểm! Cả một vùng thương cảng sầm uất đă thành chiến địa tan hoang. Những người Hoa c̣n sống sót đă bồng bế nhau lánh nạn về Bến Nghé và là những người đă gầy dựng lại sự nghiệp, thành lập vùng Chợ Lớn về sau này! Trong quá tŕnh di dân vào Đàng Trong, về mặt tín ngưởng, phải nhắc đến sự kiện về ba nhà sư, đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều (người gốc Quảng Đông): Thành Nhạc, Thành Đẳng và Thành Chí. Ba nhà sư này đă khởi công sáng lập ba ngôi chùa nay vẫn c̣n nổi danh ở Đồng Nai. Sư Thành Nhạc cùng các đệ tử đă lập chùa Long Thiền ở xă Bửu Ḥa, ven sông Đồng Nai. Sư Thành Đẳng đă chọn Cù Lao Phố để dựng chùa Đại Giác và sư Thành Chí đă lên vùng núi đá Bửu Long xây dựng chùa Bửu Phong. Chùa Đại Giác khi được dựng lên, chỉ là một ngôi chùa nhỏ, cột cây, vách ván, lợp ngói âm dương. Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, vào năm 1779, công chúa thứ ba của Nguyễn Ánh là Nguyễn Thị Ngọc Ánh trong cơn binh lửa, đă có lần đến ẩn náo tại chùa Đại Giác. Khi Gia Long lên ngôi, nhớ đến ơn ngày trước, vua đă ban chiếu cho trùng tu năm 1802. Đến năm 1820, vua Minh Mạng cũng tiếp tục cho sửa rộng lớn hơn. Công chúa Ngọc Ánh đă cúng dường một bức hoành phi sơn son thiếp vàng có khắc ba chữ „ Đại Giác Tự“. Bên trái khắc „Minh Mạng nguyên niên, mạnh đông cốc nhật“, bên phải khắc „Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Ánh phụng cúng“. Tấm hoành phi này đến ngày nay vẫn được treo trước chánh điện. Qua nhiều đợt trùng tu về sau này, chùa mới có thêm lầu chuông và lầu trống. V́ thế, tuy chùa có tiếng là „cổ tự „nhưng nay lại có kiến trúc hoàn toàn mới. Chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong và chùa Long Thiền là ba ngôi chùa chứng tích cho bước Nam Tiến của nửa đầu thế kỷ thứ XVII. Ba nhà sư : Thành Đẳng, Thành Chí, Thành Nhạc thuộc ḍng Lâm Tế của tổ Nguyên Thiều đă có công đức thành lập ba trung tâm Phật giáo đầu tiên ở đất Đồng Nai. Việc hoằng dương giáo pháp đă được truyền đi các tỉnh miền Nam từ ba trung tâm sơ khời này. Nhắc đến các đền, chùa ở Cù Lao Phố, không thể không kể đến một ngôi chùa đặc biệt, nằm cách bên phía tay phải chùa Đại Giác khoảng một trăm thước. Chùa có tên là chùa Chúc Đảo, nay được mang tên là chùa Chúc Thọ; nôm na lại có tên gọi chùa Sau nhưng dân gian vẫn thường gọi là chùa Thủ Huồng. Người sáng lập chùa là một nhân vật có thật, tên Vơ Thủ Hoàng. Có lẽ v́ dân chúng Đàng Trong không dám phạm húy đến tên chúa Nguyễn Hoàng nên tên Thủ Hoàng được gọi trại thành Thủ Huồng? Vơ Thủ Hoàng là một thư lại ở đất Đồng Nai vào đầu thời Chúa Nguyễn. Nhờ sử dụng các thủ đoạn xảo trá, Thủ Huồng đă lươn lẹo chiếm đoạt được nhiều tài sản của dân chúng, cho vay nặng lăi v.v...nên đă trở thành bá hộ. Có nhiều huyền thoại được truyền tụng trong dân gian nhưng đại để câu chuyện là Thủ Huồng đă có dịp gặp được một người đi thiếp xuống địa ngục (có chuyện lại kể là chính ông đă được dịp đó) và thấy ở dưới đang có sẵn một gông lớn giành cho Thủ Huồng! Thủ Huồng đă ăn năn hối cải, đem của bố thí cho người nghèo, bán ruộng vườn để cúng dường chùa chiền, giúp đỡ thôn xóm. Ông đă dùng gia sản dựng lên chùa Chúc Đảo ở Cù Lao Phố, thiết lập một chiếc bè lớn có đầy đủ nồi niêu, gạo, mắm cho ghe thuyền lỡ độ đường ngược nước có chỗ nghỉ ngơi ở ngă ba sông Đồng Nai và sông Sài G̣n. Ngă ba có chiếc bè của Thủ Huồng đến nay vẫn c̣n được gọi là Ngă ba Nhà Bè, một địa danh đă đi vào lịch sử với câu ḥ: Nhà Bè nước chảy chia hai:
|
|
|
|
||
|
|
||
|
|
||
|
|
||
|
|
||