TRANG
LỊCH SỬ


         NĂM TRĂM NĂM NH̀N LẠI

·      G.S. Xuân Vũ TRẦN Đ̀NH NGỌC
 

 





Trăm năm bia đá cũng ṃn

Ngàn năm bia miệng hăy c̣n trơ trơ.

                                         (Ca dao)

Trong năm Ất Dậu này, người Việt hải ngoạichúng ta có ba mốc điểm lịch sử đáng ghi nhớ:

    -30 năm bỏ nước ra đi v́ Tự Do, Dân chủ.

    -60 năm kể từ trận đói kinh hoàng tháng Ba năm Ất Dậu (1945), nguyên nhân và hệ quả.

                -50 năm, cho đến 20-7-2004, Hiệp định Genève kí kết chia nước VN ra làm hai, nửa phía Bắc cho
                CS, nửa phía Nam cho người QG. Cuộc di cư vĩ đại ngay sau đó của hơn một triệu người Bắc vào

                miền Nam lập nghiệp, tránh nạn CS.
 

       Tuy nhiên, những biến cố lịch sử thường cài răng lược với nhau, biến cố này nảy sinh biến cố kia và ngược lại; v́ vậy, nếu xét kĩ và đi về ngọn nguồn của các biến cố, ta phải t́m ra những đầu mối, tức những nguyên nhân, mới hiểu được hậu quả và cái hậu quả đó lại làm thành nguyên nhân cho các biến động khác.

Tuy tập chú vào 60 năm qua nhưng chúng tôi muốn cùng bạn đọc đi ngược ḍng lịch sử của nước nhà, thời Lê mạt, tức thời vua Lê, chúa Trịnh, sau đó Trịnh Nguyễn phân tranh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn, người Pháp chiếm nước ta làm thuộc địa, rồi người Nhật vào Đông Dương, nạn đói xẩy ra, cuộc chính biến 19-8-1945, chiến tranh Việt Minh - Pháp, Hiệp định Genève, nền đệ nhất Cộng ḥa miền Nam VN, nền đệ nhị Cộng ḥa, ngày mất miền Nam 30-4-1975 và sau cùng, 3 triêu người Việt đào thoát khỏi VN đi lập nghiệp ở khắp mọi nơi trên thế giới, không kể gần một triệu bị hải tặc giết, tầu ch́m, hết lương thực trên biển Đông và những người đi xuyên rừng qua ngả Lào, Cam bốt, Thái Lan bị giết.

Đó có thể là “một mớ ḅng bong”, như các học sinh Trung học thường nói khi học Sử, nhưng chúng tôi sẽ chỉ đi rất khái quát để bạn đọc nắm được những điểm chính yếu. Phương pháp này chúng tôi thường dùng khi c̣n dạy Sử bậc Trung học ở Sàig̣n để giúp trí nhớ các học sinh luyện thi Tú tài I, Tú tài II và Trung học đệ nhất cấp bằng cách tóm tắt, có khi 5 trang bài chỉ c̣n lại nửa trang cho dễ nhớ.

         Nói là khái quát v́ chúng tôi không dùng tài liệu nào ngoài cuốn Việt Nam Sử lược của cụ Trần trọng Kim, tất nhiên cuốn này không thể đủ v́ không cuốn sử nào tự hào đă chép đủ hết mọi biến cố. Vả lại, cụ Lệ Thần cũng chỉ chép đến ngày 9-3-1945, “ngày quân Nhật đảo chính Pháp, giao quyền nội trị lại cho vua Bảo Đại” nên từ đó trở đi, chúng tôi chỉ dùng một thứ tài liệu từ trong óc tức là kinh nghiệm sống, những ǵ đă trải qua, những sự thực của các biến cố v́ thiết nghĩ, nếu muốn đọc những tài liệu Sử, trong đó có thực, có hư qua nhiều nhà biên soạn với đủ mọi khuynh hướng, cái nh́n chủ quan, thiên vị, quí bạn có thể vào nhiều Thư viện ở Hoa kỳ hoặc Pháp...cũng có thể t́m thấy những ǵ, hoặc một phần, muốn đọc.

       V́ họ Nguyễn với 13 vị vua cuối cùng có liên quan mật thiết đến những thời ḱ chúng tôi đă nói ở trên nên trong bài này chúng tôi đi ngược lên một số năm kể từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh là cái mầm mống cho những cuộc tranh hùng sau này và cũng để người Việt chúng ta thấy được trong mấy trăm năm đó, dân Việt chịu cảnh quốc phá gia vong, chiến tranh đau khổ lầm than như thế nào. Đó chính là chủ đích bài khảo lược ngắn gọn này vậy.

 

HỌ TRỊNH Ở NGOÀI BẮC - HỌ NGUYỄN Ở TRONG NAM

        Mốc khởi đầu trong bài này từ thời Hậu Lê, vua Lê Trang tông (1533-1548). Đó là Nam triều, c̣n ngoài Bắc thuộc quyền cai trị của họ Mạc, Mạc đăng Dung (1527-1529) từ khi soán đoạt ngôi vua Lê.

       Nguyên Nguyễn Kim, con của Nguyễn hoằng Dụ, lúc đó đang làm quan Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An thanh hầu, khi Mạc đăng Dung soán đoạt ngôi nhà Lê th́ trốn qua Ai lao, được vua Ai lao là Xạ Đẩu cho ở đất Sầm châu (thuộc Trấn man phủ, đất Thanh hóa).

Nguyễn Kim cho đi t́m con cháu nhà Lê để mưu đồ khôi phục. Đến năm Quí tị (1532) t́m được người con út vua Chiêu tông tên là Duy Ninh, Nguyễn Kim bèn lập lên làm vua tức là vua Lê Trang tông.

Khi ấy lại có một tướng giỏi tên Trịnh Kiểm, quê ở làng Sóc sơn, phủ Quảng hóa. Ông Nguyễn Kim thấy người có tài bèn gả con gái là Ngọc Bảo cho, để cùng ra sức giúp nhà Lê, dứt nhà Mạc.

Năm Canh  tí (1540), Nguyễn Kim đưa quân về đánh Nghệ an.

Năm Nhâm dần (1542) Trang tông cất quân đánh Thanh hóa và Nghệ an, qua năm sau 1543 th́ thu phục được Tây đô, quan tổng trấn nhà Mạc là Dương chấp Nhất qui hàng.

Năm Ất tị (1545), Nguyễn Kim đem quân ra đánh Sơn Nam, v́ khinh xuất, bị hàng tướng nhà Mạc là Dương chấp Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao cả lại cho con rể là Trịnh Kiểm  (chồng bà Ngọc Bảo).

       Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cũng lập được công lớn. Nguyễn Uông được phong Lang quận công; Nguyễn Hoàng được phong Thái Úy Đoan quận công.

       V́ Trịnh Kiểm sợ họ Nguyễn tranh mất quyền của ḿnh (đối với vua Lê) nên kiếm chuyện giết Nguyễn Uông đi. Nguyễn Hoàng cũng sợ Trịnh Kiểm hại ḿnh bèn vào nói với chị ruột  là  bà Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm, xin cho vào trấn thủ miền Nam. Trước đó, Nguyễn Hoàng đă cho người đến hỏi cụ Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, cụ viết cho 8 chữ bảo đưa về cho Nguyễn Hoàng:

                             “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

 nghĩa là một dải Hoành sơn có thể làm chốn dung thân hàng chục ngàn năm được. Nguyễn Hoàng hiểu ư và nhờ bà Ngọc Bảo, năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm tâu với vua Lê Anh tôn cho làm trấn thủ Thuận hóa.

       Năm Nhâm thân (1572) Trịnh Kiểm mất, hai người con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh quyền đánh nhau, nhà Mạc thừa thế đem quân vào đánh Thanh Hoá bị Nguyễn Hoàng dùng mĩ nhân kế giết mất tướng là Lập Bạo, phá tan quân nhà Mạc.

       Năm Quí tị (1593) Trịnh Tùng lấy được Thăng long, bắt được Mạc mậu Hợp nhưng dư đảng c̣n nhiều, phải đánh dẹp nhiều nơi. Nguyễn Hoàng đem quân sĩ và súng ống ra Đông đô ở 8 năm giúp Trịnh Tùng đánh họ Mạc lập được nhiều công to nhưng Trịnh Tùng vẫn nghi ngờ không muốn cho Nguyễn Hoàng trở về Thuận hóa.

Năm Canh tí (1600) nhân v́ họ Trịnh làm nhiều điều thất nhân tâm, ba người là Phan Ngạn, Ngô đ́nh Hàm và Bùi văn Khuê khởi binh chống họ Trịnh ở cửa Đại an (Nam định). Nguyễn Hoàng lấy cớ xin đi dẹp nhưng thẳng đường biển trở về Thuận hóa. Để họ Trịnh khỏi nghi ngờ, Nguyễn Hoàng đem con gái là Ngọc Tú gả cho Trịnh Tráng là con Trịnh Tùng. Từ đó trở đi, Nam Bắc phân biệt, bề ngoài làm ra ḥa hiếu nhưng bên trong th́ vẫn lo việc pḥng bị để chống cự với nhau.

       Năm Quí sửu (1663) Nguyễn Hoàng mất, truyền lại cho con là Nguyễn phúc Nguyên, tục gọi là chúa Săi. Ở ngoài Bắc, hai người con của Trịnh Tùng là Trịnh Tráng (con cả) và Trịnh Xuân tranh quyền. Vua Lê Kính tông mưu với Trịnh Xuân để giết Trịnh Tùng bị Tùng khám phá âm mưu, giết cả hai. Trịnh Tùng  lập hoàng tử là Duy Kỳ lên làm vua tức Lê Thần tông. Việc binh quyền, Tùng giao cả cho Trịnh Tráng.

       Đă mấy năm, họ Nguyễn trong Nam không hề đóng thuế cho vua Lê, Trịnh Tráng bèn làm tờ sắc của vua bằng chữ Nôm, hạ lệnh cho chúa Săi phải nộp thuế. Chúa Săi không nộp. Trịnh Tráng đưa 5,000 quân vào đánh.

 TRỊNH - NGUYỄN ĐÁNH NHAU LẦN THỨ NHẤT (1627).

 Bên họ Nguyễn có Đào duy Từ (đắp lũy Trường Dục tục gọi là  lũy Thầy), Nguyễn hữu Dật, Nguyễn hữu Tiến làm quân sư nên quân họ Trịnh chết rất nhiều. Đang khi đó, Nguyễn phúc Nguyên (chúa Săi) lại phao tin Trịnh Gia và Trịnh Nhạc sắp làm loạn nên Trịnh Tráng phải rút quân về.

       Trịnh - Nguyễn đánh nhau lần thứ hai năm Canh ngọ (1630).

       Đánh nhau lần thứ ba: năm Quí mùi (1643).

       Chúa Săi Nguyễn phúc Nguyên chết, truyền ngôi lại cho con là Nguyễn phúc Lan tức chúa Thượng (1635).

       Đánh nhau lần thứ tư, năm Mậu tí (1648). Nguyễn phúc Tần, con Nguyễn phúc Lan đánh quân Trịnh thua to.

       Tiếp đó, Nguyễn phúc Lan chết, con là Nguyễn phúc Tần lên thay, tức chúa Hiền. Ở ngoài Bắc, vua Lê Chân tông mất, không có con, Trịnh Tráng lại rước vua Lê Thần tông đang là Thái thượng hoàng về làm vua lần nữa.

       Đánh nhau lần thứ năm. Từ năm Ất mùi (1655), hai bên đánh nhau nhiều trận, giằng co, lúc thua lúc được. Quân họ Nguyễn nhiều lần vượt qua Linh Giang (tức sông Gianh) sang phần đất bên kia đánh quân họ Trịnh. Nhân dân đồ thán.

       Ở ngoài Bắc, có một điều đáng lưu ư: anh em ruột cũng nghi kị nhau. Nguyên Ninh quận công Trịnh Toàn là con út Trịnh Tráng, Trịnh Tráng sai vào thống lĩnh trấn thủ đất Nghệ an. Trịnh Toàn phối trí quân sĩ nhưng vẫn bị thua bèn lui về An tràng. Từ khi trấn thủ Nghệ an, Trịnh Toàn hậu đăi  tướng sĩ, yêu mến quân dân, ḷng người đều phục. Nhưng chẳng bao lâu, Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc là con cả lên thay, thấy em có nhiều người yêu mến, lấy làm nghi kị, bèn cho con là Trịnh Căn  vào cùng trấn đất Nghệ an, có ư giữ cho khỏi biến  loạn. Nhưng sau đó, Trịnh Tạc cho người vào đ̣i Trịnh Toàn về kinh, trách sao cha chết không về chịu tang, bắt bỏ ngục giam chết. Đó là t́nh “huynh đệ như thủ túc”!

       Đánh nhau lần thứ sáu. Tháng 10 năm Tân sửu (1661) Trịnh Tạc cử đại binh và đem vua Lê thần tông vào đánh chúa Nguyễn. V́ thành lũy chúa Nguyễn kiên cố, Trịnh Tạc đánh măi không được phải rút về. Quân Nguyễn đuổi đánh đến sông Linh Giang mới thôi. Ở đây ta thấy một điều, quân Trịnh mạnh hơn quân Nguyễn nhưng phải đi xa, quân lương vũ khí chuyển vận rất vất vả c̣n quân Nguyễn ở tại chỗ, chỉ đào hào đắp lũy cho kiên cố chờ quân Trịnh đến nên sức tuy yếu mà cố thủ lâu dài được. Quân Trịnh đi xa, khó khăn mọi bề, đánh măi không được, phải rút về v́ thiếu lương thực và cũng sợ có biến tại nhà.

       Sau cuộc chiến tranh lần thứ sáu, vua Lê thần tông về rồi đến tháng 9 th́ mất. Trịnh Tạc lập thái tử là Duy Vũ lên làm vua tức Huyền tông. Lê Huyền tông làm vua được 8 năm th́ mất. Trịnh Tạc lại lập hoàng đệ là Duy Hội lên làm vua tức là vua Gia tông.

       Đánh nhau lần thứ bảy. Từ sau trận thứ sáu, Trịnh Tạc bận đánh dẹp họ Mạc ở Cao bằng nên không nḥm ngó ǵ đến miền Nam. Măi đến năm  Nhâm tí (1672), Trịnh Tạc lại đem mấy vạn quân và rước vua Gia tông vào đất Bắc bố chính để đánh họ Nguyễn. Chúa Hiền cũng đem binh cự địch.

       Quân họ Trịnh đánh rất hăng nhưng Nguyễn hữu Dật hết sức chống đỡ. Đến tháng chạp mưa rét, lại nghe Trịnh Căn (con Trịnh Tạc) đi đến Linh giang ngă bệnh nặng, Trịnh Tạc liền cắt cử tướng canh giữ Nghệ an và các nơi hiểm yếu, lấy sông Gianh làm giới hạn phân chia Nam Bắc rồi rút về Thăng long.

       Từ đó Trịnh - Nguyễn tạm thôi việc chiến tranh cho đến khi Tây sơn khởi binh, họ Trịnh mới nhân dịp đem binh vào lấy đất Thuận hóa. Trong ṿng 45 năm, Trịnh Nguyễn đánh nhau cả thảy 7 lần.

       Sau Trịnh Tạc, các chúa Trịnh gồm có:

-        Trịnh Căn (1682 – 1709) con Trịnh Tạc

-        Trịnh Cương (1709 – 1729) cháu Trịnh Căn

-        Trịnh Giang  (1729 – 1740) con Trịnh Cương. Một nhà chúa xa xỉ, hung ác, nước nhiều giặc giă.

-        Trịnh Doanh (1740 – 1767). Trịnh Giang bị bỏ năm 1740, em là Trịnh Doanh lên thay. Trịnh Doanh đánh dẹp giặc giă trong nước.

-        Trịnh Sâm (1767 – 1782) Trịnh Sâm dẹp yên giặc ở xứ Bắc, lấy được đất Thuận hóa và đất Quảng Nam của chúa Nguyễn nhưng v́ say đắm  nàng Đặng thị Huệ (Bà chúa Chè) mới bỏ con trưởng (Trịnh Khải) lập con thứ (Trịnh Cán, con bà chúa Chè), sinh ra biến loạn.

-        Trịnh Cán (1782 – 1783) con bà Tuyên phi Đặng thị Huệ, làm chúa được hơn 1 năm bị quân Tam phủ bỏ đi, lập Trịnh Khải lên. Bà Đặng thị Huệ bị nhốt trong ngục, sau tự tử trong đám giỗ Trịnh Sâm. Một người đàn bà có đảm lược, trung trinh.

-        Trịnh Khải  (1783 – 1786) bị quân Tây sơn bắt được, phải tự tử. Họ Trịnh đến đây là chấm dứt.

HỌ NGUYỄN Ở TRONG NAM

-        Triệu tổ - Thái tể Nguyễn Kim.

-        Con gái là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm); Nguyễn Uông; Nguyễn Hoàng (chúa Tiên).

-        Nguyễn phúc Nguyên (chúa Săi)

-        Nguyễn phúc Lan (chúa Thượng)

-        Nguyễn phúc Tần (chúa Hiền)

-        Nguyễn phúc Trăn (chúa Nghĩa)

-        Nguyễn phúc Chu (Quốc chúa)

-        Nguyễn phúc Chú

-        Nguyễn phúc Khoát

-        Nguyễn phúc Luân - Nguyễn phúc Thuần

-        Nguyễn phúc Ánh (Gia long)

-        Minh Mệnh - Thiệu trị - Tự Đức - Dục đức - Hiệp ḥa - Kiến phúc – Hàm Nghi - Đồng khánh – Thành thái – Duy tân - Khải định - Bảo đại.

KHỞI ĐẦU THỰC DÂN PHÁP VÀO VIỆT NAM

Năm Canh tí (1780) Nguyễn phúc Ánh xưng vương, thăng thưởng cho các tướng sĩ.

Trong thời gian này, Nguyễn vương phải chạy thất điên bát đảo từ Gia định ra Phú quốc, sang Côn sơn, lại trở về Phú quốc v́ anh em Tây Sơn đánh rất rát. Nhờ Châu văn Tiếp đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo đánh đuổi được Tây sơn, lấy lại được Sài côn (tức Sàig̣n) nên Châu văn Tiếp cho người ra Phú quốc mời Nguyễn vương về Sài côn.

       Chẳng được bao lâu, tới năm Quí măo (1783), vua Tây Sơn lại sai Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ vào đánh. Nguyễn vương lại phải rước vương mẫu và cung quyến ra Phú quốc.

       NGUYỄN VƯƠNG ÁNH CẦU CỨU PHÁP LAN TÂY

       Lúc đó lương thực hết sạch, Nguyễn vương Ánh cùng những người đi theo phải hái rau và đào củ chuối mà ăn, t́nh cảnh vô cùng khốn quẫn. Nhân trước kia, vương có quen một người nước Pháp làm Giám mục Thiên chúa giáo là Bá đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine, Evêque d’Adran), khi ấy đang ở Xiêm la, vương liền mời đến bàn việc. Giám Mục Bá đa Lộc nói nên cầu cứu nước Pháp nhưng phải cho hoàng tử đi làm con tin mới được.

       Nguyễn vương theo lời ấy bèn giao con cả là hoàng tử Cảnh, mới 4 tuổi,  cùng với quốc ấn và một tờ quốc thư cho ông Bá đa Lộc để sang Pháp cầu viện.

       Tờ quốc thư ấy có 14 khoản, xin nước Pháp giúp cho 1,500 quân lính, tầu bè, súng ống, thuốc đạn, đủ mọi thứ. Để vua Pháp Louis XVI dễ dàng chấp thuận, Nguyễn vương xin nhường cho nước Pháp cửa Hội an (Faifo), đảo Côn sơn và để cho người Pháp được đặc quyền vào buôn bán ở nước Nam. Nguyễn vương cũng làm một thư riêng cho vua nước Pháp  và sai quan phó vệ úy Phạm văn Nhân và cai cơ Nguyễn văn Liêm đi theo pḥ hoàng từ Cảnh.

       Mọi sự đă sắp đặt xong nhưng v́ trái gió mùa nên ông Bá đa Lộc chưa khởi hành được  Trong lúc ấy, Nguyễn vương - v́ không chắc sẽ được nước Pháp giúp - nên có ư cầu viện Xiêm la.

       Nguyễn vương Ánh được Tiêm vương mời sang bàn việc, do thỉnh cầu của Nguyễn vương, vua Xiêm sai hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 2 vạn quân cùng 300 chiến thuyền (có sách chép 5,000)  sang giúp Nguyễn vương, đánh lấy được Rạch giá, Ba thắc, Trà ôn, Mân thít, Sa đéc. Quân Xiêm ỷ thế đi đến đâu cướp phá, hăm hiếp làm lắm điều bạo ngược nên ḷng người oán hận lắm.

       Tướng Tây Sơn giữ đất Gia định là Trương văn Đa thấy thế giặc mạnh lắm bèn cáo cấp ra Phú Xuân. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ chinh phạt.

       Nguyễn Huệ vào đến Gia định nhử quân Xiêm la đến gần Rạch Gầm và Soài mút đánh một trận tơi bời, quân Xiêm mười phần chết chín, c̣n vài ngàn quân chạy bộ về phía Cam bốt. Nguyễn Huệ dẹp được quân Xiêm rồi đuổi đánh Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh chỉ c̣n dăm người, hết cả lương thực, chạy về Trấn giang, đảo Thổ châu, đảo Cổ cốt rồi sang Xiêm. Sau đó Nguyễn Huệ đem quân về Qui nhơn, để đề đốc Đặng văn Chân ở lại trấn đất Gia định.

       Cái mộng nhờ cậy người Xiêm la đă tan thành mây khói, Nguyễn Ánh giục Giám mục Bá đa Lộc đem hoàng tử Cảnh đi gấp Pháp cầu viện. Ông Bá đa Lộc đi rồi, Nguyễn vương đưa gia quyén sang Xiêm trú ngụ ở Vọng các chờ cơ hội trở về.

       Theo đoạn sử này, Nguyễn Ánh là kẻ cơng rắn cắn gà nhà nhiều lần, cũng giống như Lê Chiêu thống, may được người anh hùng Tây Sơn giải cứu dân Việt khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Pháp nḥm ngó và quyết tâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa cũng từ Nguyễn Ánh. V́ cần có 1,500 lính Pháp và các quân cụ vũ khí, tầu chiến để diệt Tây Sơn, Nguyễn Ánh tự động bán lănh thổ cho Pháp với tờ quốc thư 14 điều khoản nói ở trên. Tờ quốc thư này hiện nay c̣n để ở bộ Ngoại giao Pháp tại Paris.   (nhấn xem bài tiếp theo)   

 

G.S. Xuân Vũ  TRẦN Đ̀NH NGỌC

 


Các bài đă đăng:
-Năm Trăm Năm Nh́n Lại
-
Tuệ Trung Thượng Sỹ. Ngọn đuốt sáng của đời Trần
Jun/10/06
-
Một chút lịch sử về Qui Nhơn - B́nh Định  Jun/08/06
-
Chợ Lớn Jun/04/06
-
Sài G̣n  Jun/04/06
-
-Chùa Một Cột và tinh thần Phật Giáo thời nhà Lư May/19/06
-Cựu Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm May/04/06
-Tổng thống Pháp May/04/06
-Nhà thờ Thánh Phêrô tại Vatican May/04/06
-
Lịch sử Chiêm Thành Apr/26/06
-
Người Việt Nam Apr/25/06
-
Khai quốc công Lư Thường Kiệt Apr/25/06
-Vua Gia Long  Apr/15/06
-Nam Phương Hoàng Hậu Apr/12/06
-
Thượng Thư
Phan Thanh Giản Apr/06/06
-
Vị vua cuối của triều Nguyễn Mar/28/06
-
Nghệ thuật Thiền Tông Mar/27/06
-Đạo Cao Đài Mar/27/06
-
Các nền văn minh nhân loại Mar/27/06
-
Thơ Đường Việt Nam Mar/27/06
-
Tuồng Huế
Mar/24/06
-
Luận sư Long Thụ Mar/22/06
-
Tranh Đông Hồ Mar/04/06
-Quốc ngữ Việt Mar/04/06  
-
Luật hỏi ngă trong chữ Việt Mar/04/06
-
Hán ngữ -Trung văn Mar/04/06
-
Văn học đời nhà Trần Mar/04/06
-
Họ Trần Mar/04/06
-Di tích và truyền thuyết về nhà Tây Sơn Mar/04/06
-
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương Mar/03/06
-Ca Dao Việt Nam  Mar/03/06
-Cải Lương Mar/03/06
-
Phật Giáo Việt Nam Mar/03/06
-
Thích Ca Mâu Ni Phật Mar/03/06
-
Ba Ngôi Thiên Chúa  Mar/03/06
-
Nhà tiên tri Muhammad  Mar/03/06
-
Văn Học Việt Nam  Feb/18/06
-Tục Hôn lễ Việt Nam Feb/24/06
-Tục Trầu Cau Việt Nam Feb/24/06
-Lá trầu không  Feb/18/06
-Những ngôi đ́nh Việt Nam  Feb/24/06
-Quả Cau  Feb/18/06
-
Toàn Quyền Đông Dương Pháp  Feb/18/06
-
Những ngôi Chùa Việt Nam Feb/18/06
-
-Phạm Thiên Thư và "Ngày Xưa Hoàng Thị"
--Những câu vè dân gian ngày Tết
-
Chiếc nón lá Việt Nam
-Chiếc áo dài Việt Nam
-Hội họa triển lăm Mùa Xuân tại California