
Nhạc sĩ Văn Cao vào thăm xứ Huế, có một đêm
cùng nàng ca kỹ đất thần kinh, đờn lạnh trên sông Hương, đến lúc thần
trí biến thành khói sương, đă nh́n cảnh chùa Thiên Mụ, bỗng cảm nhận
rằng chung quanh ông, như có vài giọt Tháp Chàm từ trời xanh rơi xuống.
Thật vậy, ai đă từng một ḿnh, lầm lũi trong bóng hoàng hôn giữa mùa thu
hanh vàng, mà văng vẳng như c̣n chớm lại một chút heo mây bàng bạc, qua
những nẻo đường quê của bốn quận miền bắc B́nh Thuận. Ở đó xa mờ từng
ngôi tháp Chàm đơn quạnh trên đồi gió, khiến cho ai nh́n, cũng sửng sờ
v́ ngỡ là những tha nhân đang đồng hành với thời khắc và không gian vô
tận.
Tất cả rất lạ trong nỗi buồn phảng phất trên mặt đá, thản nhiên đi qua
cuộc đời, khiến cho ta cũng phải bâng khuâng trong những bước về đi
quanh quẩn.
Hỡi ơi đời người trong cung thương tang điền đó, không biết phải có bao
nhiêu biển nhớ mới đủ, để mà xẽ chia nỗi sầu cùng với những người thiên
cổ? hay vẫn chỉ thấy ruột gan đ̣i đoạn, suối lệ đầm đ́a, năo nùng hờn
hận và dùng dằng lúc chia tay.
Đứng trước tháp Chàm, bỗng ngao ngán vô cùng cho số phận khắc nghiệt của
trái tim đau. Cho nên trong nỗi chờ thiên cổ, có lúc ta và tháp đá đă
ḥa chung nỗi đam mê khắc khoải trong mưa thu hiu hắt, lệ mặn chát môi
và cứ thế mà ngóng cho tới bao giờ.
Mưa thu làm rụng cánh hoa mướp vàng đeo đầy trên những hàng giậu tre đan
trước ngơ, nhưng không đủ để tẩy xóa rêu bụi thời gian bám đầy tháp cổ.
Những nẻo đường Ma Lâm, Phan Rí, Long Hưong, Phan Rang nắng gió cát
biển, bao đời vẫn chưa thay đổi bước chân người Chàm với các tà áo đủ
màu vàng xanh hoa lư, bó sát những người phụ nữ một nắng mười sương đam
chiêu khắc khổ. Bước chân lê thê in bóng, trên những đường quê cát bỏng,
trong buổi chiều tà, làm kẻ hành nhân qua đó thêm thương, thêm lệ.
Dọc theo con đường thiên lư từ Phan Thiết ra tới Thừa Thiên, đó đây vẫn
c̣n nhiều đền tháp của người Chàm để lại, tuy bị phong sương dầu dăi
nhưng không đánh mất nét kiêu hănh của một thời vang bóng như các tháp
Pô Naga, Ḥa Lai Pô Klong Girai, Pô Romê, Pô Shanư, Cánh Tiên, Mỹ Sơn,
Trà Kiệu.
Tới nay cũng vừa đúng 100 năm phát hiện khu di tích Mỹ Sơn và nhiều công
tŕnh khảo cứu được công bố nhằm xác định lại các niên lịch, phong cách
kiến trúc, tuy nhiên cũng chỉ là công việc quan sát để diễn tả, mà chưa
chính thức đi sâu vào hồn của đá gạch bên ngoài, từ lâu vốn xa lạ với
nhà khảo cổ.
Ai cũng biết tháp Chàm là một công tŕnh kiến trúc nghệ thuật độc đáo
của dân tộc Chiêm Thành, thể hiện tài năng của người xưa đă đạt tới kỹ
thuật xây cất tinh vi khi xây tường, mà không cần dùng hồ vữa, khiến cho
tác phẩm càng tăng thêm thẫm mỹ. Trong công tŕnh xây dựng tháp, mới đây
qua sự nghiên cứu lâu năm của một chuyên viên tên Lê văn Chỉnh, cho biết
'Chính viên gạch mới là yếu tố quyết định.'
Theo tác giả trên, người Chàm xưa làm gạch bằng cách đem đất sét tươi
phơi khô, tán giả thành bột và trộn chung với chất phụ gia, rồi sú nước
nhồi đất cho thật nhuyễn trước khi đem in. Nhiệt độ nung gạch cũng phải
nhất định, để không chín quá, khiến chất phụ gia bị phế thải, làm cho
viên gạch bị 'khốc' giảm đi giá trị, ngược lại không chín đủ, gạch bị bể
không xây được.
Gạch nung xong lại được ủ kín trong ḷ, qua một thời gian, để viện gạch
không bị dương hóa quá sớm, làm mất màu, độ dịu và sự dính kết bền chặt.
Quan trọng hơn hết là móng nền của tháp, nơi chịu đựng cả một trọng
lượng gạch nặng nề bên trên, tất cả đều dùng chung một loại gạch, để
toàn khối tháp đều được dẫn truyền, thu nhận nguồn năng lượng âm dương
đồng đều, khiến cho các viên gạch dù ở vị trí nào cũng luôn tươi nhuận
màu sắc cố hữu.
Về kết cấu nền móng, người Chàm dùng đá cuội và cát làm lớp dưới, xong
đem gạch giă vụn trộn thêm chất dính, sú nước và nện làm thành một tảng
đá bất dịch với thời gian. Một bí mật khác là chu vi móng nền, luôn bằng
chiều cao tháp, để quân b́nh trọng lượng. Theo các chuyên viên xây cất
đời nay, th́ việc làm nền móng rộng như thế, là để tăng cao độ điều tiết
năng lượng lên, v́ gạch Chàm vốn xốp nên hút và thấm nước thật nhanh.
Bởi vậy chân tháp càng rộng th́ tháp càng mau thoát nước vào mùa mưa, và
ngược lại độ ẩm ở dưới cũng truyền nhanh lên đỉnh tháp vào mùa nóng bức.
Tóm lại tháp Chàm là một tổng thể kiến trúc, bao gồm một Kalan, tức là
tháp chính và nhiều ngôi tháp nhỏ, cùng nhiều công tŕnh phụ với những
tiêu phẩm điêu khắc đặt trong ḷng tháp như các tượng thần, vua chúa,
hoàng hậu, vũ nữ và các bộ Linga-Yoni. Ngoài ra những bí ẩn về tháp Chàm
hiện nay về phương diện xây cất, mặc dù được Lê văn Chỉnh giải thích là
do viên gạch cùng với những giả thuyết cho rằng người Chàm xây tháp bằng
gạch sấy khô, chạm khắc rồi nung đỏ cả tháp. Lại có thuyết nói là họ
dùng dầu rái để làm dính các viên gạch hay chỉ mài nhẵn mặt các viên
gạch trong nước rồi xếp lên, khi khô gạch sẽ dính chặt với nhau, mà
không cần dùng chất kết như ciment hiện nay. Nói chung dù có dược giải
thích thế nào chăng nữa, th́ những bí ẩn của tháp Chàm, cũng như Người
và Đất Chiêm Thành, chắc chắn vẫn không thay đổi, trừ phi những người
trăm năm cũ đội mồ sống lại, vén màn bí mật.
+ NHÓM ĐỀN THÁP PÔSHANƯ Ở PHÚ HÀI, B̀NH THUẬN:
Vào tháng 4-1995, các nhà khảo cổ học đă phát hiện được ở Lầu Ong Hoàng,
thuộc xă Phú Hài, thành phố Phan Thiết. Tại khu vực này, c̣n nhiều dấu
tích và sự sống của người xưa lựu lại, như những chiếc ŕu đá, mộ ṿ
bằng gốm thô, được xếp vào nền văn hóa cổ Sa Huỳnh, có niên lịch cách
nay chừng 2500-3000 năm. Điều này chứng tỏ trước khi Phù Nam và Lâm Ap
lập quốc, ở đây đă có thổ dân sinh sống.
Riêng nhóm tháp Chàm Pôshanư có niên lịch vào khoảng thế kỷ thứ VIII
nhưng các di vật đào thấy từ ḷng đất th́ có sớm hơn, vào khoảng thế kỷ
thứ VI-VII. Đặc biệt các nhà khảo cổ c̣n phát hiện nhiều đồ vật, được
xác nhận là của vương quốc Phù Nam. Tất cả qua khảo cổ, đă cho chúng ta
hiểu biết phần nào về những giai đoạn lịch sử trọng đại của bán đảo Đông
Dương như tài liệu đă minh xác: "Khánh-B́nh là đất của Phù Nam, sau đó
bị Chiêm Thành sáp nhập."
Vào giữa thế kỷ thứ VIII, miền Bắc có nhiều biến động, nên trung tâm
Chiêm Thành dời vào vùng Khánh-B́nh, xây dựng tháp Pônagar hay là Tháp
Bà hiện c̣n tại Nha Trang. Giai đoạn này được gọi là Vương triều
Panduranga, truyền được sáu đời vua, kéo dài một thế kỷ. Sau đó trung
tâm của Vương quốc lại di chuyển về bắc. Châu Panduranga lại bị bỏ hoang
làm trái độn, giữa biên giới hai nước Chân Lạp-Chiêm Thành, cho tới năm
1697 trở thành tỉnh B́nh Thuận.
Từ đó, vùng đất hoang vu này, nhờ có lưu dân Đại Việt từ miệt ngoài vào
khai khẩn lập nghiệp, ở trên bờ cũng như dưới biển, mới có B́nh Thuận
ngày nay. Bởi vậy ở Phan Thiết, trong khoảng thế kỷ IX-XVII, không có
một công tŕnh kiến tạo nào ngoài nhóm đền tháp cũ từ trước.
Nhóm đền tháp Pôshanư cách Phan Thiết chừng 7 km về hướng đông bắc, trên
đường đi Mũi Né, Ḥn Rơm, vùng đất du lịch mời khái thác, rất được người
tứ xứ ưa chuộng. Tháp tọa lạc trên đỉnh đồi, mang một cái tên rất huyền
thoại, đó là Lầu Ông Hoàng. Tháp rất cổ, v́ được dựng lền từ thế kỷ thứ
VIII, để thờ thần Shiva.
Sau đó vào thế kỷ thứ XV, lại xây thêm tháp thờ công chúa Pôshanu, nên
cả nhóm tháp mới có tên chung là Pôshanư từ đó. Phong cách kiến trúc ở
đây, được xếp vào nghệ thuật Ḥa Lai, giống như lối kiến trúc các tháp
Chàm tại thánh địa Mỹ Sơn, Quảng Nam, có trên 1200 năm tuổi thọ.
Do trên, các tháp Chàm ở đây hầu như khác biệt với những di tích Chiêm
Thành ở Ninh Thuận. Tại Phan Rang, các di tích kiến trúc đều xây bằng
các trụ h́nh vuông và h́nh chữ nhật, lại trang trí đầy các tượng đá, lá
nhĩ, h́nh thù thú vật bằng đá rất quái dị. Trái lại tháp Chàm Pôshanư
được xây bằng loại gạch lớn được mài nhẵn và có dùng chất dính. Bên
ngoài các trụ áp tường h́nh tṛn, không dùng đá trong việc xây cất hay
trang trí, tóm lại toàn bằng gạch, đó là những điểm đặc biệt của phong
cách nghệ thuật Ḥa Lai.
Trong số nhóm tháp tại đây, các tháp có từ thế kỷ VIII, hiện c̣n 3, gồm
một tháp chính và 2 tháp phụ. Riêng tháp thờ công chúa Pôshanư, đă bị
vùi sâu dưới ḷng đất từ thế kỷ thứ XVII, nay mới được phát hiện qua
công tŕnh khảo cổ. Riêng phía trong tháp chính, c̣n thấy bệ thờ ngẫu
tượng Shiva là bộ Linga-Yoni, tạc bằng đá xanh đen, cùng với những điêu
khắc khác cũng bằng đá, được chạm trổ rất tinh vi nghệ thuật.
Tại tháp B c̣n lưu trữ nhiều tài liệu liên quan đến tín ngưỡng, trong đó
có nói tới sự thờ con ḅ Thần Nandin bằng đá rất lớn như tại các đền
tháp Chàm tại Ninh Thuận, nhưng nay đă biến mất. Tháp Pôshanư từ lâu vẫn
do nhóm người Chàm sinh sống tại Ma Lâm Chàm ǵn giữ và phụng cúng, theo
truyền thống của tổ tiên bao đời.
Ngoài ra ở đây c̣n có nhiều tượng đá linh ứng mà người Chàm xưa thờ cúng
gọi là ông Dàng-Bà Dàng. Tại Thạch Long, thuộc quận Hải Long c̣n truyền
thuyết về lăng vợ chồng ông bà Dàng, là đôi thanh niên nam nữ, bị người
Chàm chôn sống để làm phép ếm đối trấn giữ vàng bạc châu báu, đă chôn
trong thời chiến tranh. Sau này người VN đến ở và tiếp tục lập miếu thờ
cúng hằng năm, để tránh bị Quỹ Dàng khuấy phá.
Tại Phú Hài trên đồi Ngọc Lâm, c̣n có một tháp thờ Đốc phủ người Chàm.
Kế bên có một ngôi chùa, xây cất theo kiểu Chiêm Thành, bằng đất đun
chín có chạm khắc rất đẹp. V́ thế chùa này được gọi là chùa Tháp. Tương
truyền chúa Nguyễn Anh trên đường tẩu quốc, thuyền có ghé vào đây, nên
đă sắc từ là Bửu Sơn tự. Trên đảo Phú Quư, ngoài khơi cách Phan Thiết
hơn 100km, c̣n có một miếu thờ Bà công chúa Chàm
Trong tỉnh B́nh Thuận, ngoài nhóm tháp Chàm tại Phú Hài, dọc theo quốc
lộ số 1 từ Phan Thiết tới Tuy Phong có 5 xă Chàm và 5 xă Thượng nhưng
quan trọng hơn hết, là dù Chiêm Thành tuy bị vong quốc hơn ba thế kỷ,
nhưng hầu hết các di lịch lịch sử của họ, đă được các chính quyền và dân
Đại Việt tỉnh B́nh Thuận, trân quư bảo vệ giữ ǵn rất tích cực, dù các
ngôi tháp trên gần như nằm trong các khu vực mất an ninh. Trong khi đó,
tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, qua thời gian chín năm
chống giặc Pháp, đă bị cái gọi là VC-Liên Khu 5, bắt tiêu thổ thành b́nh
địa, ngoại trừ nhà cửa, tài sản của người Việt gốc Hoa.
Bởi vậy nên Phật Viện Đồng Dương ở Quảng Nam, bị đập tới viên gạch cuối
cùng. Tệ hơn trong thời gian chiến tranh xâm lược miền Nam (1955-1975),
VC trốn vào Thánh địa Mỹ Sơn, rồi bắn phá chọc ghẹo Mỹ và VNCH, khiến
cho Hoa Kỳ phải giội bom vùng này, làm hư hại nhiều di tích của tiền
nhân để lại từ mấy chục thế kỷ qua.
Cũng trong địa phận B́nh Thuận, tại Phú Điền, xă Long Hương c̣n tháp
Phô-Chô Caikru (ông Gũ), ở Long Điền có miếu Pô Praga (ông Gạo), được cả
người Việt lẫn Chiêm, tôn thờ làm Thành Hoàng. Ngoài ra c̣n nhiều di
tích của người Chàm xưa được t́m thấy ấp Long Phước, xă Phước Thể, quận
Tuy Phong gồm các tượng của thần Bamung, Pô Nagar, Tagar Chak, Uma hay
các Kút bằng đá thờ thần Pô Pan.
Tại động Ngọc Sơn, xă Chợ Lầu, quận Ḥa Đa, ngày nay c̣n dấu tích tháp
vua Pô Kloon Ghul, nằm giữa những động cát trắng, trông giống như tường
thành bao bọc. Theo sử liệu, Pô Kloon Ghul, sinh tại làng Ninh Hoà, xă
Hựu An, quận Phan Lư Chàm ngày nay. Từ năm 1773-1774 người Chàm theo Tây
Sơn nổi lên chống lại chúa Nguyễn. Tại Thạch Thành ở Phú Yên, nữ chúa
Thị Hỏa v́ vậy nên bị Tống phúc Hợp giết.
Tại Thuận Thành Trấn, từ năm 1693 trở đi, các Phiên vương Kế Bà Tử rồi
Chưởng Cơ Tá lần lượt kế tập thế truyền. Năm 1782, Tây Sơn vào B́nh
Thuận, Tá đem vàng bạc và ngọc ấn ra hàng. Năm 1788, Nguyễn Anh từ Gia
Định ra Trung, bị quân Tá chận đánh dữ dội, nhưng cuối cùng cũng bị
Nguyễn văn Hào thuộc phe chúa Nguyễn giết tại Phan Rí. Từ đó, chúa
Nguyễn Anh chấm dứt vương hiệu của Chiêm Thành mà chỉ phong Nguyễn văn
Chiêu làm chưởng cơ, Nguyễn văn Hào và Nguyễn văn Chân làm cai cơ, cùng
trấn giữ đất Thuận Thành.
Thật sự cả ba người trên đều là người Chàm. Riêng Nguyễn văn Chiêu tên
thật là Môn-Lai-Phù-Tử. Phiên vương Chiêu hay Pô Kloon Ghul tại vị được
27 năm, khi mất được người Chàm xây tháp để thờ. Ở Lương Sơn, các tựong
đá của Pô Kloon Mon Nai, Pô Bia Xom được thờ trong chùa Thuận Đông. Tại
Ap Ḥa Thuận, xă Chợ Lầu c̣n 5 miếu nhỏ bằng đá, mà người Chàm gọi là
Kút, thờ các tro cốt trong hoàng tộc vua Pô-Rômé, cũng như nhiều tro cốt
khác, trong đó có vua Pô-Yang-Thak (1627-1651).
Cũng tại bốn quận miền bắc B́nh Thuận, nay c̣n sót lại ṿng thành sông
Lũy. Thành này nay thuộc liên ranh ba quận Hải Ninh, Phan Lư Chàm và Hoà
Đa, được xây bằng đá ong, có chiều dài 3m, cao 4m, bao bọc hai mặt
đông-tây con sông, chạy dài trên 5 km. Đây là thành lũy cuối cùng của
vua Bà Tranh, chống ngăn quân Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh năm 1692. Thành
bị hư nhiều chỗ nhưng vẫn được bảo quản tốt và nằm sát quốc lộ số 1,
cách Phan Thiết chừng 50 km.
Trong quận Phan Lư Chàm, c̣n có núi thần Yan-Yin được truyền tụng. Đây
là một thắng cảnh cũng là một di tích của người Chàm. Núi nằm về phía
tây thị trấn Sông Mao chừng 17 km. Trên đỉnh núi có một tảng đá rất lớn,
bằng phẳng, từ đó có thể nh́n xuống một thác nước chảy vào một thung
lũng, có la liệt những h́nh đá trông nhu b́nh rượu, yên ngựa và kỳ hoa
dị thảo mà quư nhất là phong lan, tỏa hương sắc bốn mùa.
Kế bên lại có ngọn núi cao thật hùng vỹ, người Chàm bảo đó là chốn ngự
tọa của thần Yan-Yin. Tại Thanh Vụ hay Xa Raik, sau này được người Việt
gọi là Đại Ḥa, xă Lạc Trị có tháp thờ bà Chúa Xứ với tượng tạc bằng
ngọc thạch. Ap Vĩnh Hanh c̣n tháp thờ Pô Khrah Trà Toàn. Pô Khrah là
triều đại Chiêm Thành luôn xăy ra nhiều biến loạn v́ sự tranh giành ngai
vàng cũng như nạn đói trong nước.
Giữa thế kỷ XV, kinh đô Chà Bàn (Pan Angui) thất thủ, Trà Toàn cùng
hoàng tộc chạy vào lánh nạn tại vùng thượng du Mạng Tè (Tánh Linh-B́nh
Tuy). Sau đó Đại Việt rút quân về, nên Chiêm Thành trở lại chiếm Phú Yên
và đóng đô tại Bley-Bait-Pa-Nan tức Tuy Ḥa nhưng cuối cùng Trà Toàn rút
về Châu Hanh và mất tại đó. Trong tháp hiện c̣n một chậu nước phép, ba
ḥn đá thờ, một lư hương và nhiều Kut bằng đá.
Một tháp khác cũng trong xă Lạc Trị, ấp Phú Nhiêu thờ vua Pô Kok Dih
cũng là tên của vua Pô Long Gari cũng có tháp chính tại Phan Rang. Đây
là một vị minh quân, làm vua từ năm 1166, đồng thời với vua Lư Anh Tôn.
V́ có nhiều công trạng với nước, nên người Chàm nhớ ơn và lập đền tháp
khắp nơi để phụng thờ. Trong lúc sinh tiền, vua hay ngự về Phú Nhiêu
nghĩ mát, nên dân chúng ở đây có lập bia kỹ niệm. Tại Ap Lạc Trị c̣n dấu
hành cung của vua Trà Duyệt và mộ của Pô Tathun Ghnoh (ông Gũ), bị Tây
Sơn đầy lên Đồng Nai Thượng mất năm 1711.
Tại ấp Thanh Hiền xă Hựu An c̣n tháp thờ vua Pô-A-Nith, người Chân Lạp
đă cướp ngôi vua Chiêm Thành vào thế kỷ thứ XVI. Ong này là con của Pô
Kloon-Ha-Lâu. Triều đại này kéo dài được vài chục năm mới mất. Hiện c̣n
di tích hành cung của Pô Klon Ha Lâu và Yai Pa Ral, nằm bên hữu ngạn
sông Lũy, đối diện với chùa Bà Thiên Hậu do người Minh Hương đă lập ra.
Tại xă Tịnh Mỹ hiện c̣n nhà của bà quận chúa em vua Pô Klon Ghol, với
các bảo vật của vua Chàm để lại như 2 mũ vàng, 3 mũ hoàng hậu, một đôi
xuyến vàng, 1 đôi bạc, 3 đôi hoa tai và các xiêm áo. Trong ấp này c̣n có
Công chúa Nguyễn thị Thêm cũng giữ một số báu vật của các vua chúa Chàm.
Tóm lại khắp các làng mạc xa gần trong quận Phan Lư Chàm, hầu như nơi
nào cũng c̣n nhiều di tích và tháp đền lớn nhỏ thờ cúng các vi vua chuá
và hoàng tộc Chiêm Thành.
Người ta nói B́nh Thuận là đất vua ở cũng rất đúng, v́ nơi này có Lạc
Trị, Hậu Quách, Phố Hải, Ma Lâm Chàm.., c̣n lưu dấu đầy răy bia kư, lăng
mộ cùng nhiều kỷ vật thời xưa của các vị vua chúa nước Chiêm, đó là chưa
kể tới Phố Hai từng là nơi phát tích của Thị tộc Cau (Kramucavamca) ,
vào thế kỷ thứ VI sau TL, mà di tích sót lại là nhóm đền tháp trên đồi
Ngọc Lâm.
+ THÁP PÔ KLONG GIRAI Ở PHAN RANG:
C̣n được gọi là Tháp Chàm,xây trên một ngọn đồi gần ga xe lửa và quốc lộ
11, Phan Rang-Đà Lạt. Theo truyền thuyết, th́ tháp do chính nhà vua xây,
về sau dân chúng đắp tượng nhà vua để thờ cúng. Ong là một minh quân, có
nhiều công lớn với nước Chiêm Thành. Thời gian trị v́ từ năm 1151-1205,
đă thực hiện được nhiều việc làm có ích lợi, nhất là trong lănh vực nông
nghiệp. Ong đắp đập Nha Trịnh trên sông Kinh Dinh, rất thuận tiện trong
việc dẫn thủy nhập điền, đập này đến nay vẫn c̣n được xử dụng. Riêng
tháp Pô Klong Girai gồm một tháp chính và nhiều tháp phụ xung quanh.
Hiện tháp được coi như một trung tâm thờ phụng các vua chúa Chàm, trong
cộng đồng chung của sắc tộc Chiêm Thành. Ngoài ra nơi này c̣n là nơi để
tiến hành các lễ hội ngày tết, văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền Chiêm
Thành.
+ THÁP BÀ NHA TRANG:
C̣n được gọi là tháp Pô Nagar ở Xóm Bóng, Vĩnh Phước, Nha Trang trên
QL1. Toàn bộ khu tháp đứng trên một ngọn đồi, sát bờ sông Cái, trông ra
biển đông. Đây là thánh địa của vương triều Panduranga, được xây vào thế
kỷ thứ IX. Qua ḍng lịch sử, Tháp bị tàn phá nhiều lần rồi lại được
trùng tu, cho tới khi thuộc Đại Việt, mới được bảo toàn cho tới ngày
nay.
Tháp thờ nữ thần Pô Inư Nagar hay Thiên Y A Na là bà chúa xứ nước Chiêm
Thành. Đây là một cụm tháp gồm nhiều tháp nhỏ. Trước kia có 6 tháp, 2
tháp thờ ông bà Thiên Y, hai tháp thờ cha mẹ nuôi và hai tháp c̣n lại
thờ con cái của nữ thần. Hiện nay chỉ c̣n có 4 tháp gồm điện chính lớn
nhất thờ bà. Ngoài ra c̣n các tháp tây, nam. Tháp chính có chiều cao
22,48m, nền tháp cao 1m. Có khám thờ cao 10.8m, bên trong thờ tượng nữ
thần và ngẫu tượng Yoni. Trên các tầng tháp đều có nhiều tác phẩm điêu
khắc các tiên nữ bay lơ lửng trên không, đứng xa tưởng như sắp sà xuống
trần thế. Tháp hiện nay gần như thuộc về người Việt và Hoa đến nhang
khói cúng bái. Người Chàm chỉ tới cúng tháp Bà ở Ap Hữu Đức, xă Phước
Hữu, quận An Phước, Ninh Thuận mà thôi
+ THÁNH ĐỊA MỸ SƠN Ở QUẢNG NAM:
Cách Đà Nẵng về hướng tây-tây nam khoảng 68 km, nằm sâu trong một thung
lũng bốn bề là núi non chớn chở bao kín. Đây là nơi thu hút được nhiều
nhà khảo cổ khắp nơi, v́ bên trong chứa đựng quá nhiều bí ẩn không ai
giải thích được. Đặc biệt thánh địa, chỉ để thờ cúng thần linh, nên theo
quan niệm của An Độ giáo, phải được xây dựng trong chốn thâm nghiêm, sơn
cùng thủy tận, cách biệt với thế giới ngoài đời.
Thời tiền chiến, nhà thơ Chế Lan Viên trong lúc lang thang đi hái những
vô thường, bất chợt lạc tới khu đền tháp cổ của người Chàm c̣n sót lại,
đă động ḷng trắc ẩn khóc nhớ thương đời:
'đây những tháp gầy ṃn v́ mong đợi
những đền xưa đă nát dưới thời gian
những sông vắng lê ḿnh trong bóng tối
những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.'
Đó cũng là những lư do gây xúc động trong ḷng mọi người, khi t́m về
những kỳ quan được xây dựng bằng mồ hôi máu lệ của cả một dân tộc. Mỹ
Sơn muôn đời vẫn là những lời th́ thầm của đất, dù là bây giờ có đủ
phương tiện và hết chiến tranh, nhưng muốn chạm mắt nh́n vào cũng không
phải là chuyện dễ. Khách du ngoạn phải gồng ḿnh để vượt qua một đoạn
đường dài xuyên sơn vượt suối.
Chết là cái chắc nếu nhở hụt chân hay vô ư giẫm vào đá rêu, lá mục. Bởi
vậy dù được mời gọi, quảng cáo, sự thật chẳng có bao nhiêu người biết,
ngoại trừ trước 1975, du kích và bộ đội chính quy núp sống ở vùng này.
Ngày xưa người cổ Ai Cập chẳng biết đă dùng cách ǵ, để nâng các tảng đá
nặng hằng vạn cân để dựng kim tự tháp, giống như người Chàm xây tháp chỉ
bằng gạch cát mà không cần hồ vữa. Cho nên dù với mục đích ǵ chăng nữa,
hai công tŕnh thiên cổ này vẫn được đời đánh giá và trên hết cũng vẫn
c̣n bí mật mịt mờ.
Bước qua cầu Khe Thẻ là vào khu thánh địa, trần gian mới cảm thầy tê tái
ê chề trước cảnh hoang liêu sầu cổ độ, nát vỡ tan hoang, nhất là tại khu
tháp đánh dấu bằng A1, là nơi mà VC chiếm làm mật khu, nên bị Mỹ giội
bom vào đây ác liệt. Mỹ Sơn là một thng lũng hẹp thuộc miền trung du
tỉnh Quảng Nam, được bao bọc bởi nhiều ṿng núi cao thấp, liên tiếp bên
ngoài, kế bên là con sông lớn.
Thánh địa do vua Bhadvavarman xây dựng để thờ cúng các thần thánh trong
đạo Bà La Môn. Mới đây lại giao cho một người Ba Lan tên Kazimierz
Kwiatkwski hay Kazik trùng tu, tái tạo để câu khách du lịch trong và
ngoài nước. Nhiều người bảo Mỹ Sơn có thân phận giống như người Chiêm
Thành, khi trải qua những ḍng thác lũ của thời gian. Thật vậy, tháp
được thành lập và chăm sóc chưa tới mười thế kỷ, th́ do binh biến, phải
bỏ hoang trên mấy trăm năm. Sau đó thời gian chiến tranh khói lửa mịt
mù, thánh địa liên tiếp hứng lănh bom đạn và sự tàn phá từ mọi phía
nhưng nặng nề nhất là thời kỳ tiêu thổ kháng chiến và giai đoạn
1960-1975.
Tất cả đều là nỗi đau chung của nước Việt và những người bất cứ là ai đă
sống ở đây. Đêm dài VN trong ngục tù nô lệ cọng sản, có khác ǵ đêm buồn
vô tận của Mỹ Sơn hằng ngàn năm khắc khoải, dù ở đây đang chênh chếch
bóng trăng thượng huyền trùng hằng sương bạc. Trong thánh địa ngổn ngang
tháp miếu đền đài nhuộm sầu loang lỗ, buồn rầu ngàn năm vạn kiếp đứng
ngó những ḥn Đền, ḥn Vuốt Mèo nơi rặng Mahaparvat như đợi chờ. Tất cả
đều im lặng, trầm mặc, tịnh không kể luôn những tiếng th́ thầm của đá.
Ngoài ra chỉ nghe có gió vọng từ hàng cây Bạch Đàn, hoà âm cùng tiếng dế
nỉ non trong đêm dài bất tận, khiến cho chim chóc cũng sợ, phải ĺa bầy.
Mỹ Sơn hùng vỹ diễm tuyệt dù đă bị suy tàn, nhưng dù có muộn màng chăng
nữa, th́ chắc chắn từ đây sẽ được yên nghỉ trong ṿng tay bao che dấu ái
và thân thương của người Việt bao đời.
Mỹ Sơn là một tổng thể kiến trúc lừng lẫy và đa dạng nhất trong nền kiến
trúc mỹ thuật của Chiêm Thành. Thánh địa gồm 70 đền tháp và một số lớn
bia kư có niên lịch liên tục qua nhiều thế kỷ từ IV-XIII nhưng nhiều
nhất trong khoảng thế kỷ VI-IX sau TL. Vua Bhadraravarman I khởi đầu xây
cất những công tŕnh, để thờ phụng tổ tiên, thần thánh và đền thờ chính
của ḿnh cũng như hoàng tộc, hoàng triều. Từ đó về sau cứ tiếp tục hoặc
trùng tu, cho tới thế kỷ thứ XIII coi như chấm dứt.
+ THÁNH ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI CHÀM THEO HỒI GIÁO:
Người Chàm dù theo đạo Hồi cũ (Bani) hay Hồi giáo mới, thường có một
thánh đường để hành lễ. Đây là một nơi rất quan trọng trong đời sống tâm
linh của người Chàm, nhất là những người sống tại Sài G̣n và Châu Đốc.
Thánh đường đạo Hồi thường được xây trên một khu đất cao ráo rộng răi,
có tường bao quanh và nằm ngay giữa hoặc về phía nam cổng làng.
Mỗi thánh đường đều có bảng tên riêng viết bằng tiếng Ả Rập. Nhà nguyện
là công tŕnh kiến trúc chính của thánh đường, xây theo kiểu ṿm tháp
mái tṛn đỉnh nhọn. Nhà nguyện luôn được xây theo hướng đông-tây và khi
hành lễ, các tín đồ phải quay về hướng tây là nơi có thánh địa La
Mecque, vốn được coi là trung tâm Hồi giáo thế giới. Bức tường phía tây
đối diện với cổng chính, được xây một ṿm cung lơm sâu vào gọi là 'HẬU
TẨM' để người đứng chủ tế, gọi là ông I MÂM, điều khiển chương tŕnh.
Bên cạnh lại có bục giảng của KHOTIB, tức là thầy tu giảng kinh.
Nhà nguyện hoàn toàn trống trơn, không có bàn thờ h́nh tượng, và chỉ
dành cho nam giới tới qui phục đấng thượng đế của họ. Nữ giới cầu nguyện
ở phía ngoài hành lang, cho tới khi qua đời, được làm phép tẩy sạch, thi
hài mới được khiêng vào nhà nguyện để cầu phúc trước khi đem chôn cất.
Ngoài ra c̣n có các lớp học dạy cho trẻ con chữ Á Rập và kinh Coran.
Phiá sau trong khuông viên thánh đường Hồi giáo, thường có khu nghĩa địa
của tín đồ. Tại Sài G̣n có các thánh đường Hồi Giáo Đông Du, Nancy (Q.1)
và thánh đường Phú Nhuận.
Tóm lại qua những chặng đường lịch sử, đă hé mở cho ta thấy nhiều thần
thánh Chiêm Thành, đă được người Đại Việt chia xẻ quan niệm thờ cúng,
khi hai dân tộc sống lẫn lộn ḥa nhập trên mảnh đất Trung phần. Dù tháp
Bà tại Nha Trang ngày nay coi như được Việt hoá hay đạo thờ cúng Cá Ong
của ngư dân từ nam đèo Ngang vào tới Hà Tiên. Tuy nhiên hai sự kiện trên
cũng chưa đủ giải thích sự ṭ ṃ của những nhà biên khảo, khi muốn t́m
hiểu một Bumông (đền thần Chàm) đă thành đền miếu Việt hồi nào và bằng
cách ǵ. Có điều th́ sự ḥa hợp trên, ít ra cũng làm sáng tỏ, là hai
phía đă có giao tiếp rất b́nh thường, lâu dài chứ không hề cắt đứt như
một số h́nh ảnh bi thảm có ác ư.
Ngoài vùng Ô Châu được tiếp nhận lâu đời, nên gần như đă được Việt hoá
trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào dựng nghiệp trên bờ cơi Đàng Trong vào
thế kỷ thứ XVI. Mà rơ nét nhất là sự thần phục của người Đại Việt trước
Bà Chúa Xứ Chàm, tức Thiên Y, Thiên Y A Na, Thiên Mụ, có tầm mức tác
động ḍng tín ngưỡng trong cái khuôn đúc tôn giáo Chiêm-Việt tại Nam Hà
về sau.
Theo A. Cabaton viết trong Nouvelles Rechercher, nói người Chàm trong
nguồn tín ngưỡng của ḿnh, đă coi Cá Ong là thần Sông và lễ cầu ngư được
tiến hành một cách đặc biệt, mà B́nh Nam Đồ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn)
khi b́nh nam về đă ghi chép lại, xác nhận một hội lễ quan trọng của
người Chàm, sống chủ yếu bằng nghề đi biển. Sách nhắc tới địa điểm phồn
thịnh nghề đánh cá lúc đó là Phố Hải có tháp Chàm được vẽ cao 8 tầng như
tháp Việt, có h́nh ba con cá Voi ở ngoài biển quay vào, với ghi chú
'hằng năm vào tháng 5, cá quay về tháp' Hiện nay, lễ cầu ngư ở duyên hải
B́nh Thuận cũng mở vào thánhg 5, khi các mành chài vào mùa biển chính
trong năm. Riêng nguồn gốc của những núi non có chữ Tà như Tà Dôn, Tà Cú
ở B́nh Thuận hay các Tà Mă, Tà Nông, Tà Khuông, Tà Việt...xa hơn về phía
nam, theo Trịnh Hoài Đức ghi nhận là tập theo mạn ngữ mà phân biệt các
thần địa phương đă được nhà Nguyễn phong tặng, thế thôi.
Trong sự hỗn độn xô bồ này, hiện tượng ốp đồng ở Ḥn Chén, một địa điểm
linh thiêng của người Chàm xưa, coi như một hiện tượng kỳ lạ rất lâu
đời. Điện Ḥn Chén thờ Mẫu mà truyền thuyết lâu đời, th́ đó là nhị vị nữ
thần tối cao mang tên Liễu Hạnh và Thiên Y A Na, dù khi c̣n là Chiêm
Thành hay thuộc Đại Việt. Điện này được xây trên núi Ngọc Trản, thuộc
làng Hải Cát, ven bờ sông Hương, cách Huế chừng 10 km về phía thượng
nguồn. Nơi này mỗi năm hai lần vào mùa xuân và thu, đều tổ chức đại lễ
cúng tế rất trọng thể nhất là tháng 7 âm lịch. Chiêm Thành theo mẫu hệ
và lănh thổ chạy dài từ Quảng B́nh vào B́nh Thuận, toàn là biển và núi,
cho nên nữ tính nổi bật trong quan niệm thờ cúng của xă hội người Chàm
và dân miền thượng cao nguyên.
Trên hết qua phương diện địa lư, ta thấy rừng núi như đè nặng con người
duyên hải nước Việt, cho nên cả đá, cây rừng trong tâm khảm của lưu dân
miền Trung khi tới khẩn hoang các miền đất mới, như h́nh phải đối diện
khắp nơi vô số thần thánh, nữ chúa, kể cả những kút trợ trọi lẽ loi, mà
người Chàm đă bỏ lại. Do trên qua tên của bà chúa Thượng Ngàn, chẳng qua
chỉ là một cái tên chung chung mà giới b́nh dân Đại Việt đă gọi khi cúng
bái. V́ vậy đừng ngạc nhiên khi vào trong điện Nam Sơn ở Huế, thấy thờ
tượng cô Bảy ở trần, mang gùi, da đen sậm, một tay cầm cành dương liểu,
tay kia cầm ve thủy tinh đựng thuốc.
Trong Am Hoà Cảnh có h́nh bốn cô Nường Mọi đeo c̣ng vàng chuỗi ngọc. Nói
chung người Đại Việt khác với Chiêm Thành ở chổ là ḥa đồng không phân
biệt. Ví như Bà Chúa thượng ngàn ở Huế, cũng tôn kính na ná như bà Liễu
Hạnh tại Nam Định hay vợ chồng ông chủ Ngu ở miền Nam. Nhưng người Chàm
th́ khác, Bà Chúa Xứ Chiêm Quốc cũ nay đă xuất hồn về Hữu Đức, Phan Rang
mới chính thị của Chàm, c̣n Bà tại Tháp Bà Nha Trang, Bế Ngăi ( Bà Rịa)
hay Ḥn Chén (Huế), được coi như thần Bà của người Việt, qua thư văn
mang dạng tiên nương của Lăo Giáo, dù mang nhiều tên như Thiên Y A Na,
Chúa Ngọc Diễn Phi, Pô Yan Ino Naưga, tựu trung cũng chỉ là một. Ngày
nay trong miếu Thiên Y tại Phan Rí (B́nh Thuận), vẫn c̣n một bia kư, do
tri huyện Ḥa Đa dựng năm 1854.
Con người sinh ra ai cũng phải chết, đó là qui luật của tử sinh trong
cơi vô thường. Triết gia Đức M.Heidegger th́ gọi đó Etre pour la mort,
cũng như Phật giáo quan niệm đời là bể khổ. Cái chết là sự tất yếu phải
chịu, nhưng con người đâu dễ ǵ bó tay nằm yên trong cổ mộ. Họ muốn
trường tồn bằng đủ mọi cách, nhất là đối với các vị vua chúa trên đời,
qua tạo lăng tẩm, đền tháp và t́m thuốc trường sinh bất tử.
Cho nên dù có được phát xuất tại đâu, đạo ǵ, dân tộc nào, th́ mục đích
cũng chỉ là làm trọn vẹn cái khao khát của niềm mơ ước đó. Trong cái vô
thường tĩnh tại, trước nỗi mơ tưởng hoang đường của thế nhân và trên hết
là nỗi bể dâu trầm thống ngàn đời của lịch sử, nhà thơ Lư Hạ (791-817)
đời Đường đă viết Quan Nhai Cổ, làm cho người đọc lâng lâng hồn mơ ước,
tới một thế giới lạc phách không cùng.
Cơi thế vô cùng nhưng không hiếm tṛ tranh hùng xưng bá, nuôi mộng ảo
huyền sống cùng sông núi. Rốt cục núi ṃn sông cạn, con người luôn luôn
bị thiên nhiên chế nhạo khi ôm cái ngạo khí chọc trời. Ngẫu nhiên tiếng
trống quan nhai của Lư Hạ vang dội hằng ngàn năm trước, lại trùng hợp
với cảnh huống tang thương của lịch sử Chàm, ngàn sau nh́n lại cũng chỉ
là muốn khơi dậy trong hồn người nay niềm xao xuyến.
Người xưa đâu trong cơi đi về c̣n chăng, cớ sao chỉ thấy toàn là hận sầu
trong đá, trong gió, trong cơi vô thường? Xưa nay cách biệt ngàn trùng
nhưng dường như vẫn có một cảm thông trong nỗi ngậm ngùi của kiếp người
sống giữa mông mênh biển đời. -/-
Xóm Cồn
Đầu Thu Tháng 8-2006
MƯỜNG GIANG