Tôi được biết ngày Chủ
Nhật 28 tha’ng 5, 2006 sẽ có một buổi Đại Nhạc Hội gây quỹ cho Tượng Đài
Thuyền Nhân đă bỏ ḿnh nơi biển Đông. Sau ngày 30-04 năm 1975, mỗi người
Việt Nam v́ không chịu nổi sự hà khắc của chê’ đô. CSVN xâm chiếm miền
Nam, nên họ đành gạt lệ bỏ quê hương ra đi. Dù vượt biên bằng đượng biển
hay bằng đường bộ th́ người ra đi đă liều lĩnh mang tính mạng ḿnh thử
thách với giá trị của hai chữ tự do. Nhạc sĩ Nam Lộc đă nói thay cho người
vượt biên qua nỗi ḷng sầu vơi của bài hát “Xin Đời Một Nụ Cười”:
“… Tự Do ơi Tự Do
Tôi trao bằng nước mắt
Tự Do hỡi Tự Do
Anh trao bằng máu xương
Tự Do ơi Tự Do
Em trao bằng thân xác
V́ hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong.”

Tôi c̣n nhớ đọc sách
“Hành Tŕnh Biển Đông” do nghệ sĩ Ngụy Vũ cho ấn hành, nhiều chuyện vượt
biển nói lên sự đau ḷng ngoài biển khơi. Trong sự đói khát khiến lương
tri con người dằn co với nhu cầu của dạ dày để người ăn thịt người. Trước
đây tôi xem phim ảnh trên Ti Vi cũng có chuyện tương tự khi đoàn người đi
thám hiểm t́m lục địa mới rồi thuyền bị lạc trong băo tố giữa biển khơi và
con người cạn kiệt thực phẩm, rồi sự bi thương diễn ra khi người ta lại ăn
thịt của những người bạn đồng hành. Nhưng tâm thức tôi cho là chuyện giả
tưởng và có lẽ không xúc động nhiều như chuyện đau xót xảy ra cho chính
người dân tôị. Tôi đọc bài viết của tác giả Văn Qui trang 167 trong bài
“Cánh Bèo Trên Biển Cả”, chuyện kể rằng cô gái trẻ Mộng Chi cùng người bạn
trai vượt biển t́m tự do. Con tàu chở hai người lênh đênh trôi dạt trên
biển khơi sau hơn một tháng ra đi, nguồn tiếp liệu dự trữ như nước và thục
phẩm đă hết, số thuyền nhân trên tàu đă chết gần phân nửa và người ta dùng
dao lóc thịt người chết để thỏa măn cho nhu cầu đói khát. Tác giả mệt lă
bất tĩnh, khi thức giấc th́ biết ḿnh được tàu lớn cấp cứu, anh nằm điều
trị trong bịnh viện và đau khổ biết rằng Mộng Chi đă mâ’t tích hay là đă
chết . Chuyện tang thương khác ở trang 199 do tác giả Nguyễn Thị. Mỹ Hạnh
kể lại khi đôi t́nh nhân trẻ rủ nhau đi t́m tự do, tàu trôi bập bềnh trên
đại đương bao la trong nhiều ngày, mưa băo dồn dập khiến tàu bị hư máy,
thuyền nhân mệt lă. Rồi tai ương khác ập vào chuyến hải hành của họ, tàu
hải tặc đến cướp bóc, cướp xong bọn hải tặc giỡ tṛ tồi bại với năm thiếu
nữ trên tàu, mà trong đó có Hạ, người yêu của Hải. Trong tiếng la thất
thanh cầu cứu của Hạ, Hải đă lao người tới với ư định cứu Hạ. Nhưng tên
hải tặc Thái đứng gần đó đă tung nhát búa đă kết liễn đời chàng. Xác chết
của Hải được thủy táng vào ḷng đại dương. Tôi đă đọc và được nghe bao
nhiêu chuyện thương tâm khi người dân tôi bị dồn vào đường cùng để rồi họ
không c̣n sự chọn lựa nào kha’c hơn vượt biên tim tự do. An là một trung
úy không quân, một chàng trai độc thân vượt biên ra đi từ Rạch Giá, chuyến
hải hành của anh là một trong nhiều chuyện buồn bi thảm trong trang sử
thuyền nhân tiêu biểu, bị phong ba băo táp, bị nạn hải tặc cướp bóc và hăm
hiếp phụ nữ trên tàu. Là nam nhi anh không dằn long trước cảnh tồi bại của
bọn cướp, anh dùng búa trên tàu bủa bọn cướp Thái Lan, giặc cướp 7 tên
luân phiên đánh hội đồng anh, bọn chúng chém anh nát thây và vứt xác anh
xuống biển. Trường hợp khác Hùng, một sĩ quan hải quân mang vợ con đi vượt
biên, tàu anh bị cướp và vợ con anh bị hải tặc làm nhục, khi bọn hải tặc
mang phụ nữ sang tàu chúng, anh lao người xuống biển lội sang tàu Thái
Lan, bọn hải tặc dùng những thanh cây dài đập đầu anh và nhận ch́m xuống
biển để mộng giải cứu vợ con anh chẳng bao giờ thành. Một gia đ́nh người
Việt gốc Hoa tại Chợ Lớn mà tôi quen bị hậu quả kinh tê’ của CSVN đánh tư
sản mại bản tan nát nên họ trốn ra đi, cả gia đ́nh vợ con, cha mẹ hai bên,
anh em họ hàng cả thẩy 23 người vượt biên, nhưng diều không may xảy ra v́
giông băo lớn đến, tàu bị đắm, trong sô’ 62 người hành khách đi trên tàu
mà sô’nguời sống sót chỉ c̣n 5 người được một thương thuyền cứu vớt,
trong đó có bạn tôi, trong khi gia đ́nh đều mất hết chỉ c̣n lại một ḿnh
anh. Ôi sao thương tâm! Anh bạn này bị khủng hoảng tinh thần trong nhiều
năm khi nhớ lại cảnh chính ḿnh mục kích những người thân cha mẹ, vợ con,
anh em nh́n nhau giữa đại dương trong bất lực, mạnh ai chống chọi lại tử
thần. Tôi có người bạn học, anh vượt biên bằng đường bộ cùng vợ sắp cưới
và mấy người bạn thân trong nhóm 10 người của anh khi ra đi, nhưng đến
được đất Thái chỉ c̣n 6 người, họ chết v́ ḿn, v́ đạn AK cuả quân kháng
chiến Khmer thù ghét người Việt. Những trường hợp bi thương chết chóc v́
thiên nhiên hay v́ con người đă xảy ra cho thảm trạng nạn nhân ly hương
trên biển Đông hay đường bộ, và rồi chính sự liều lĩnh và cương quyết
thoát ly quê hương đó đă làm rung động lương tâm nhân loại. Người ta không
biết đích xác con số người tị nạn bị vong mạng trên đường vượt biên là bao
nhiêu, nhưng con số phỏng định vào khoảng nửa triệu người. Dù chết v́ ḿn
hay súng đạn do bọn thổ phỉ bằng dường bộ hay v́ giông băo hay cướp biển
trong những hành tŕnh t́m tự do bằng xương máu và nước mắt Việt Nam,
chúng ta cần vinh danh và tri ân gương can đảm của người tị nạn chính trị
Việt Nam đă vẽ ra trang lịch sử can trường, bi thưong trong lịch sử nhân
loại, những nạn nhân của tai họa Cộng Sản.
Trên tờ SaiGon Times số
ra ngày Thứ Sáu, 12-05-2006, trong bài viết của kư giả Hoàng Phúc phỏng
vấn nhà giáo Nghiêm Bạch Huệ, là một cựu thuyền nhân vượt biển bằng đường
biển đến hải đảo Pulau Bidong của Mă Lai. Cô kể về chuyến vượt biên và cảm
tưởng về việc xây dựng Tưọng Đài Thuyền Nhân như sau:
“Tôi rất xúc động xem
TV, nghe Đài và đọc báo Saigon Times biết được một số thuyền nhân đă có
dự án xây dựng Đài Tưởng Niệm để tưởng nhớ nhũng người v́ Tự Do, v́ Dân
Chủ đă ra đi và họ đă hy sinh trong cuộc hành tŕnh đầy hiểm nguy đó và
chúng ta sẽ không bao giờ quên họ”
Nghe lời phát biểu của cô
giáo Nghiêm Bạch Huê, tôi nhớ lại mô h́nh của Tượng Đài có h́nh người con
d́u mẹ già và ngừời vợ bồng con vói tay xin cầu cứu. Đây là một biểu
tượng thiêng liêng nói lên giá trị t́m tự do của hàng triệu người Việt tị
nạn, chúng ta là những người ra đi v́ lư do chính tri. Nó cũng sẽ là một
biểu tượng văn hóa v́ nguồn gốc phát xuất từ sự kiện người Việt đến đây
xin tị nạn và đóng góp cho quốc gia này qua bao gương can đảm vượt biên,
rồi cần cù làm việc để vươn lên trong xă hội mới. Con cháu chúng ta sẽ
biết rơ nguồn gốc của chúng, người Việt da vàng ồ ạt sang vùng đất này v́
họ bị áp bức bởi nhà cầm quyền độc đoán nơi quê nhà. Thi sĩ Thanh Thanh
sáng tác bài thơ mang tên “Vượt Biển”, âm vang nỗi ḷng của người mẹ mang
con ḿnh vượt biên, bài thơ thất ngôn gồm 15 đoạn 4 câu, tôi trích 3 đoạn
tiêu biểu:
“Ḱa, người thiê’u nữ bồng con dại
Đứa lớn lưng d́u, tay dắt em
Ánh mắt nh́n con đầy ái ngại
Một bầu trời tối mây trời lem…
Hôm qua nàng mặc cho con ấm
Buộc tóc, trùm khăn, kín cả người
Lũ trẻ mừng như ăn trái cấm
Không chi ai biết chuyến đi chơi…
Nàng đi t́m sống cho ra sống
Cho bản thân và cho các con:
Không chỉ cơm canh và áo xổng
Mà c̣n … chi’ cả với ḷng son…”
(Trích báo SaiGon Times, 12-05-2006, trang
11B)
Dạ Tiệc Văn Nghệ “Lời
Nguyện Giữa Biển Đông” là ư nguyện của nhà văn Thái Tú Hạp và thi sĩ Ái
Cầm khi họ vượt biên trong hoàn cảnh tranh tối tranh sáng, giữa cái hiểm
nguy của chuyến tỵ nạn, một nguy cơ đắm tàu, họ đă dâng lời nguyện cầu ơn
trên cứu khổ chúng sinh. Rồi như phép nhiệm mầu con tàu thoát nạn, thuyền
nhân an lành đặt chân lên phần đất tự do. Lời nguyện giữa biển Đông năm
nào được nhiều người chung vai sát cánh với anh chị Ái Cầm và Thái Tú
Hạp, qua Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân biểu tượng thiêng liêng của Tự Do của
hàng triệu người Việt tị nạn ly hương, một biến cố đau thương và một
chứng tích bi tráng nhất trong lịch sử Dân Tộc Việt Nam. Lịch sử chưa bao
giờ có một tập thể đông đảo người Việt liều chết băng đại dương, nhưng hậu
bán thê’ kỷ 20 hàng triệu người đồng loạt chối bỏ một chế độ hà khắc, man
rợ nhất để người dân phải liều thân xác ly hương v́ giá trị cao quy’ của
khát vọng t́m Tự Do.
* * *
Bài viết này xin kính
dâng lên linh hồn của tất cả những nguời đă tử nạn trên đường vượt biên
sau biến cố tháng 4 năm 1975, trong đó có nhiều bạn bè, đồng hương, thân
nhân của tôi, đặc biệt là Nội cùng Lành và Hạnh, hai em ruột thân yêu của
tôi.
Việt Hải Los
Angeles