Khi c̣n nhỏ, mỗi lần
bị hư bụng, yếu dạ v́ ăn đồ sống sít hoặc quả xanh rồi uống nước lă,
liên tiếp phải chạy ra “vườn” nhiều lần trước khi nói với mẹ cho mấy
viên thuốc tiêu, thuốc đau bụng uống với nước nóng hăm gừng th́ thế
nào cũng nghe mấy anh, chị nói với nhau:”Bị Tào Tháo đuổi rồi! Cậu
nhỏ ăn bậy cái ǵ đây.”
Nào
có ăn bậy cái ǵ! Chờ măi thấy mẹ đi chợ về, bánh đa kê là thứ tôi
thích hôm nay không có v́ mẹ bảo bà hàng bánh bị té lỗ lội rồi,
nhưng bù vào, mẹ có mua mấy cái bánh rán nhân đậu xanh, ở ngoài là
mật mía mầu nâu sậm quết lên, thằng bé ăn tham nhai luôn hai cái,
uống bát nước chè tươi hơi lạnh, phải hôm bụng đang yếu yếu, thế là
Tào Tháo đuổi!
“Tào
Tháo đuổi” đă trở thành một thành ngữ trong tiếng Việt thời đó để
chỉ cái sự tiêu hóa không ổn, cái bụng sôi ùng ục và dĩ nhiên, Tào
Tháo đuổi th́ phải chạy trối chết thôi. Không chạy không xong!
Nguyên do là từ
cụm từ “tháo dạ” rồi các cụ dùng tên Tháo họ Tào, mà thành ra bị Tào
Tháo đuổi cho dễ nhớ. “Chớ ăn cái đó vào kẻo Tào Tháo đuổi đấy!” Tào
Tháo vốn là Thừa tướng của vua Hán, quyền nghiêng thiên hạ, như ông
Thủ tướng bây giờ. Tháo nổi tiếng một tên gian hùng, xảo quyệt ghê
gớm đời Tam quốc. Ông ta giết người như ngoé. Và dù thằng bé c̣n
quá bé để đọc Tam quốc chí, để hiểu Tào Tháo đáng sợ ra sao cũng
phải dè mồm giữ miệng, ngon mấy cũng không dám ăn thêm nữa.
Trước khi đi vào chuyện Tào Tháo mệnh tuyệt, chúng ta dượt qua vài
hàng “triết lí vụn” về đời một con người xem ra sao bởi cái chết
của Tháo lúc đó cũng cho nhiều người - xưa và nay - sự suy gẫm đáng
đồng tiền bát gạo lắm!
Hữu
sinh hữu diệt, hữu h́nh hữu hoại. Đó là qui luật chung của Tạo hóa
cho mọi vật, mọi sinh vật, mọi loài, mọi người trên cái hành tinh
được gọi là Trái Đất này. Sinh vật như con chó con mèo ở gần quanh
ta, chỉ sống được khoảng 10-15 năm; con gà, con vịt dăm bảy tháng,
một năm. Nhưng rùa, có con sống trên một ngh́n năm, đă được kể là
sống dai nhất trong các sinh vật. Dai thế nhưng rồi cũng phải chết,
theo định luật. Núi, đồi cũng sẽ ṃn, sẽ lở, sông biển cũng sâu nông
một khác, biến đổi h́nh dạng tính từng thế kỉ nhưng thế nào cũng
phải biến đổi!
Theo các nhà
Địa chất học, trái đất chúng ta ở đă có trên 4 tỉ năm. Dĩ nhiên từ
vài tỉ năm trước so sánh với ngày nay, hai bộ mặt trái đất khác xa
nhau lắm lắm. Đó là hoại, là diệt dù diệt để khá lên hay biến h́nh.
Hạt thóc phải mục, vỏ trấu rữa ra nhiên hậu mới cho cây lúa. Cây lúa
lớn lên cho bông lúa gồm nhiều hạt thóc để làm thực phẩm cho con
người. Cây thông cao lớn phải được đẵn xuống, xay ra bột, cho vào
nhà máy để học tṛ có giấy viết bài. Tờ giấy sau khi dùng rồi lại
được nghiền ra thành bột theo một qui tŕnh khác để làm ra giấy, cứ
thế mà tiếp diễn. Kim loại từ các cái xe hư, các dụng cụ kim khí
cũng theo luật tái chế (recycle) như vậy mà xuất hiện hoặc biến
thiên hay biến đi.
Sự sinh trưởng,
biến hóa ấy là định luật chung không vật, không loài nào thoát khỏi.
Con người, nhân
linh ư vạn vật, trăm năm là thượng thọ, chưa có ai sống tới 130 năm,
mới 1/10 đời sống một con rùa; quay đi quay lại đă hết một trăm năm.
Tôi rời Việt Nam tháng 4-1975, tính đến nay cứ cho là tṛn 32 năm,
suưt soát 1/3 của 100 năm (33 năm 4 tháng), thế mà 32 năm vừa qua
trôi cái vèo, nghĩ như mới ngày hôm qua hôm kia thôi.
Lại nữa, trong
trăm năm một đời người, hết 20 năm đầu c̣n quá non nớt, hoặc yếu
đuối, hoặc ít kinh nghiệm, học chưa nhiều, việc chưa thông, chưa thể
gọi là sống cho hết ư nghĩa đích thực của cuộc sống. Ba mươi năm kế
tiếp, từ 20 đến 50, được kể là sung măn, nghị lực dồi dào, mọi việc
tiến hành có phần như ư, về trí lực cũng như thể lực. Người khá hơn
th́ được thêm 5-10 năm giữ được sức lực, trí lực không th́ sau đó
bắt đầu đi vào tuổi già, mọi khả năng đều kém xuống: nh́n, nghe, ăn,
ngủ, đi đứng, t́nh dục, nói năng, suy nghĩ, làm việc thảy đều mất
cái tinh nhanh, khoẻ mạnh, chính xác và dẻo dai.
Đàn bà nói chung
từ tuổi 40-45 không thể sinh con được nữa. Ở các nước tân tiến như
Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ư, Nhật chẳng hạn, tuổi 40 của đàn bà cũng không
phải là tuổi c̣n thụ thai. Đứa trẻ sinh ra đời mà mẹ đă ở vào tuổi
ấy sẽ yếu kém cả về trí lực lẫn thể lực, trong khi tuổi sinh đẻ lí
tưởng của đàn bà, theo sách Tâm lí học, là từ 22 đến khoảng 30 tuổi.
Y khoa ngày nay
quan niệm 40 tuổi là bắt đầu đi vào tuổi già. Nói riêng với quá
tŕnh sinh hoạt của đôi mắt của chúng ta, từ 20 tuổi nó đă bắt đầu
đi xuống có nghĩa nó mờ hơn, thị lực kém hơn so với trước đó!
Từ
60, có người là 65 (nên tuổi về hưu ở Mỹ là 65, ở thời VN Cộng ḥa
miền Nam khi xưa là 55) đa số đi vào tuổi già thực sự, mọi hoạt động
đều kém. Dù là công việc văn pḥng, việc “cạo giấy”, chủ nhân cũng
không muốn mướn các ông bà già từ 55 trở lên nữa trừ phi ứng viên có
những đáp ứng cần thiết cho công ti..
Đến tuổi 70, khi
xưa các cụ gọi là “nhân sinh thất thập cổ lai hi”, ít người có được
cái tuổi ấy, lại càng kém: tai điếc, mắt mờ, chân chậm, không thể
lái xe được nữa mà dù có cố lái th́ phản ứng cũng chậm, có khi gây
ra tai nạn thảm khốc như đă từng xẩy ra: ông lăo đau tim lái xe lên
cơn bất tử giết cả chục người trên đường.
Như
thế, nói chung, 40 năm cuối của cuộc đời 100 năm là 40 năm sống vô
vị, vô ích cho xă hội, vô ích cho cả gia đ́nh và bản thân; nếu không
nói rằng, với nhiều người, nó c̣n là gánh nặng cho những người xung
quanh và cho xă hội. Xe lăn hoặc đôi nạng là những h́nh ảnh không
mấy hấp dẫn. Xă hội nào có quá nhiều người già từ tuổi về hưu trở
lên chắc chắn xă hội ấy kém năng xuất sản xuất mà chỉ có tiêu thụ.
Đây là những mối lo của các Chính phủ các nước Tự Do như Nhật, Anh,
Mỹ, Pháp, Đức, Tây ban Nha, Ư, Thụy điển, Thụy sĩ v.v...
Một
trăm năm qui lại chỉ có 30-40 năm ở khoảng giữa, từ 20 đến 50 hoặc
60 là có giá. Sáu mươi đến 70 năm kia coi như gánh nặng cho chính
ḿnh và xă hội.
Cuộc
đời ngắn ngủi như thế, phù du như thế, sao con người không t́m ra
chân lí mà theo, lại cứ đi theo những học thuyết giả trá, hoang
tưởng hay bịp bợm làm hại đời ḿnh và hại cả những người liên hệ với
ḿnh hoặc xung quanh, hoặc đồng bào ḿnh!
Không thể đếm xuể những kẻ (ngu si) đó, như Hitler, Eichman,
Mussolini, Saddam Hussein, Ceaucescu, Marx, Engels, Lênin, Stalin,
Hồ chí Minh, Tần thủy Hoàng, Gengis Khan, Lê chiêu Thống, Trần ích
Tắc v.v... Ở đây ta chỉ nêu một trường hợp đặc biệt. Đó là Thừa
tướng Tào Tháo. Tào Tháo chỉ quen đuổi người, ấy vậy mà đến lúc Tào
Tháo bị dượt có cờ và chết ngắc. Đó là chủ ư của đoản văn này.
*
Tào
Tháo từ một người tầm thường leo lên đến chức Thừa tướng (giống Thủ
tướng bây giờ) điều khiển trăm quan, có thể chèn ép cả nhà vua nhưng
rốt cuộc ông ta cũng chết trong tủi nhục.
Tào
Tháo nổi danh là một kẻ gian hùng, lưu manh, xảo quyệt và có tính đa
nghi tối đa. Người ta thường nói:”Đa nghi như Tào Tháo”Ở mọi trường
hợp, Tháo phải ra tay trước:”giết lầm hơn tha lầm, giết lầm hơn bỏ
sót” nên y coi ai cũng như kẻ thù, y không tin bất cứ ai (thời cận
và hiện đại có một số bạo quyền như Tháo, chủ trương sát nhân diệt
khẩu, giết trăm vạn người không gớm tay!).
Truyện kể rằng một lần Tháo bị thua chạy, thầy tṛ vào tạm nghỉ
trong nhà một thường dân, người này có ḷng tôn kính Thừa tướng lắm
nên sai gia nhân giết gà, mổ heo làm cỗ đăi Tháo và tướng sĩ đi theo.
Mấy gia nhân trong lúc thi hành lệnh chủ, bảo nhau:”Bắt lấy nó, giết
ngay làm thịt!” tức bắt vịt gà và heo để giết thịt làm cỗ thí Tháo
lại nghĩ chúng đang bày mưu để giết Tháo. Tháo ra lệnh giết sạch cả
nhà người dân lương thiện này lớn bé già trẻ. Khi cận vệ của Tháo
t́m thấy trong bếp một đống gà vịt và heo đang bị vặt lông làm thịt,
Tháo mới hiểu ra đă nghi oan người tốt bụng với ḿnh th́ sự đă rồi.
Và
sau đây là câu chuyện kết cuộc đời Tháo,
trích từ Tam
Quốc diễn nghĩa của La quán Trung (bản dịch của cụ Phan Kế Bính).
GIAN HÙNG TẬN SỐ
Lại
nói qua t́nh h́nh tại Xuyên của Lưu Huyền Đức tức Lưu Bị, tức Hán
Trung vương.Vào lúc đó, khi được tin Quan Vân Trường bị hại, Hán
Trung vương sững sờ và khóc lóc thảm thiết lắm. Khổng Minh khuyên
rằng:
-
Chúa thượng chớ nên phiền năo lắm. Từ xưa có câu:”Tử sinh hữu mệnh”
Quan Công xưa nay tính cương quá mà hay cậy ḿnh khoẻ nên mới có vạ
này. Chúa thượng nên giữ ǵn tôn thể, thong thả sẽ lo việc báo thù.”
Hán
Trung vương nói:
- Cô
kết nghĩa với Quan, Trương hai em ở vườn đào, thề cùng sống thác với
nhau. Nay Vân Trường chẳng may bị hại, cô sao hưởng phú quí một ḿnh
được?
Nói
chưa dứt lời đă thấy Quan Hưng khóc lóc thảm thiết đi vào. Hán Trung
vương thấy vậy, hét lên một tiếng rồi lại ngất lăn xuống đất. Các
quan cứu tỉnh. Ngày hôm ấy, Huyền Đức khóc ngất đi bốn, năm dạo.
Trong ba hôm, Huyền Đức không ăn uống một tí ǵ, chỉ khóc sướt mướt,
vạt áo lúc nào cũng ướt đầm đ́a, nước mắt đỏ như huyết.
Khổng Minh và các quan t́m mọi cách khuyên giải. Huyền Đức nói:
- Cô
với Đông Ngô, thề không soi chung một mặt trời, mặt trăng.
Khổng Minh nói:
-
Tôi nghe Đông Ngô đem đầu Quan Công nộp cho Tào Tháo. Tháo đă dùng
lễ vương hậu táng cho ông ấy.
Huyền Đức hỏi:
-Thế
là ư làm sao?
- Đó
là Đông Ngô muốn đổ vạ cho Tào Tháo. Tháo biết mưu đó nên dùng hậu
lễ táng cho Quan Công, để chúa thượng oán về Đông Ngô.
Huyền Đức nói:
- Cô
này lập tức đề binh sang hỏi tội nước Ngô để rửa hờn đây.
Khổng Minh can rằng:
-
Không nên! Hiện nay Ngô muốn ta đánh Ngụy, Ngụy cũng mong ta đánh
Ngô. Bên nào cũng mang ḷng bất trắc, chực ta hở cơ là chộp. Chúa
thượng nên đóng quân lại, không động vội, hăy phát tang cho Quan
Công, đợi khi nào Ngô, Ngụy không ḥa với nhau ta sẽ thừa cơ đánh cả
hai nước nhân thể.
Các
quan cũng năn nỉ can ngăn măi, Hán Trung vương bấy giờ mới nguôi đi
một chút liền truyền cho các tướng sĩ trong Xuyên để tang Quan Công.
Hán Trung vương ra tại cửa Nam, bày đồ cúng lễ, làm lễ chiêu hồn,
khóc lóc cả ngày.
Nói
về Tào Tháo ở Lạc dương, từ khi táng xong Quan Công, mỗi đêm hễ nhắm
mắt là thấy Quan Công. Tháo sợ hăi quá, hỏi các quan. Các quan nói:
-
Cung điện ở Lạc dương nhiều yêu quái lắm, nên lập một ṭa cung điện
mới mà ở.
- Cô
muốn dựng một ṭa điện mới, gọi là điện Kiến Thủy, bực v́ không có
thợ khéo.
Giả
Hủ thưa:
- Ở
Lạc dương có người thợ tên là Tô Việt, khéo tay khéo chân lắm.
Tháo
sai đ̣i đến, bắt vẽ kiểu trước để xem. Việt vẽ một kiểu ṭa điện to
chín gian, trước sau có đủ cả hành lang, lầu các. Vẽ xong dâng lên.
Tháo xem xong nói:
-
Kiểu này thực hợp ư Cô lắm nhưng chỉ ngại không có gỗ nào to mà làm
cho xứng.
Tô
Việt thưa:
-
Cách thành này ba mươi dặm, có một cái đầm gọi là Dược Long. Cạnh
chùa có một cây gỗ lê cực to, cao hơn mười trượng, nên dùng làm nóc
điện này.
Tháo
mừng lắm, lập tức sai thợ đến đẵn cây ấy. Hôm sau thợ về báo rằng:
-
Cây ấy cưa không đứt, búa bổ cũng không vào, không sao đẵn được.
Tháo
không tin, dẫn vài trăm kị đến trước cửa đền, xuống ngựa, ngẩng mặt
lên xem thấy cây lá xum xuê sát đến mây xanh, thẳng tuột không có
một chà chạnh nào. Tháo sai chặt xuống. Có mấy ông cụ già lại kêu
rằng:
-
Cây này đă mấy trăm năm nay, có thần thiêng lắm, không chặt được đâu.
Tháo
nổi giận mắng:
- Ta
b́nh sinh trải khắp dưới gầm trời hơn bốn mươi năm nay, trên từ
thiên tử, dưới đến thứ dân, ai cũng phải sợ, yêu thần nào dám trái ư
ta?
Nói
xong, bèn rút gươm ra chặt mấy nhát th́ thấy có tiếng kêu sang sảng,
máu chảy ṛng ṛng ở thân cây. Tháo sợ hăi, quăng gươm, lên ngựa về
cung.
Canh
hai đêm hôm ấy, Tháo nằm không yên, đương ngồi ở trong điện ngả ḿnh
xuống ghế ngủ gà, bỗng thấy một người xơa tóc, tay cầm thanh kiếm,
ḿnh mặc áo thâm, đến trỏ vào mặt thét mắng rằng:
- Ta
là thần ở cây gỗ lê đây. Mày làm đền Kiến Thủy, sắp muốn cướp ngôi
nhà Hán, dám đến chặt cây thần của ta. Ta biết số mày sắp hết, nên
đến giết mày đây!
Tháo
giật ḿnh vội hô lớn:
- Vơ
sĩ đâu cả, chúng bay?
Tháo
kêu chưa dứt lời, người ấy cầm gươm toan chém Tháo một nhát. Tháo
hét to một tiếng, giật ḿnh tỉnh dậy, đầu nhức như búa bổ, không sao
chịu được. Tháo sai đi cầu những danh y về chữa, càng không thấy
khỏi. Các quan đều lo lắng. Hoa Hâm vào tâu rằng:
-
Đại vương có biết thần y Hoa Đà không?
Tháo
hỏi:
- Có
phải là người chữa cho Chu Thái ở Giang Đông chăng?
-
Chính phải.
-
Người ấy th́ Cô cũng nghe tiếng nhưng không biết nghề nghiệp của hắn
ra sao?
-
Hoa Đà tên tự là Nguyên Hóa, người ở Tiêu quận nước Bái, nghề thuốc
cực tài, trong đời hiếm có.
Phàm những người
nào có bệnh hoặc dùng thuốc hoặc mổ hoặc chích, hơi động tay vào là
khỏi. Nếu ai đau ở trong phủ tạng th́ cho uống thang ma phế, để cho
người ốm say mê đi như chết, lấy dao mổ bụng ra, không đau đớn chút
nào, dùng thuốc rửa sạch rồi khâu lại, dịt thuốc vào, chỉ một tháng
hoặc hai mươi ngày th́ khoẻ như thường. Đà chữa bịnh ǵ cũng tài
t́nh như thế.
Một
bữa, Đà đi ngoài đường, nghe có tiếng người rên khừ khừ. Đà nói:”
Đây là bệnh ăn uống không tiêu đây.” Hỏi ra th́ quả nhiên như thế.
Đà sai vắt ba bát nước hẹ cho uống. Người ấy uống xong, thổ ra một
con rắn dài hai ba thước, bấy giờ ăn uống mới tiêu.
Quan Thái thú
Quảng lăng là Trần Đăng, trong bụng buồn bă khó chịu, ngoài mặt th́
đỏ như gấc, không ăn uống ǵ được, mời Đà đến xem bệnh. Đà cho uống
thuốc. Đăng thổ ra ba đấu trùng, con nào cũng đỏ đầu mà đầu đuôi cựa
quậy được (trùng này ngày nay có tên là Trùng Đỏ, red worm, chú
thích của người viết bài này). Đăng hỏi, Đà bảo rằng:” Bệnh này là
ăn nhiều cá gỏi cho nên sinh ra lắm trùng, tuy chữa khỏi được bây
giờ nhưng ba năm nữa tất nhiên lại phát, không sao chữa được nữa (v́
trùng ăn vào tận xương tận tủy, hút máu hút mủ bệnh nhân). Sau ba
năm, quả nhiên Đăng lại sinh bệnh ấy rồi chết.
(Xem tiếp bài 2)
Nhà Văn Xuân Vũ
TRẦN Đ̀NH NGỌC