Hoa đào ngày
xuân
Tạ Xuân Thạc
Trên cây còn giọt nắng vàng
Em như tiên nữ nhẹ nhàng trong sen
Hoa đào trên đấy như ghen
Cánh hoa rơi rụng xuống bên ao nhà
(Đào Sen – Nguyên Đỗ)
Mỗi
độ Xuân về thì tục lệ chơi hoa đào ngày Tết ở Hà Nội nói riêng
hay ở miền Bắc Việt Nam nói chung, mọi người kẻ phú quý cũng
như người bình dân đều đua nhau mua hoa đào về chưng bày đón
xuân, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán là lúc hoa đào nở rộ mầu
hồng thắm đẹp tuyệt vời nổi bật giữa các loài hoa nên nghiễm
nhiên đã trở thành loại hoa Tết chính thống của dân tộc.
Hoa đào vì có mầu hồng rực rỡ
người ta thường gọi là mầu “hỷ tín” nên nó rất phù hợp với
không khí vui tươi của ngày Tết, những hy vọng tràn trề của
những ngày đầu năm mới để mọi người cùng chúc tụng lẫn nhau.
Khi ra định cư ở nước
ngoài, dù ta đang sống ở Á châu, Âu Châu, Úc Châu, hay Mỹ Châu
thì khi gần tới những ngày cuối năm, lòng ta lại bâng khuâng
nhớ về dĩ vãng, và trong hiện tại nhưng không biết là mình
đang bâng khuâng tiếc nuối điều gì trong quá khứ . . . Còn đây
hiện tại thì lại buồn phiền truyện gì vì Tết Dương lịch nơi xứ
người đến rồi lại đã qua đi trong lặng lẽ và tẻ lạt, còn xuân
về Tết đến nơi quê mình thì lại nghìn trùng xa cách. Mong đợi
hay mơ ước như những năm xưa chỉ còn là kỷ niệm, nhớ lại thời
xưa với những cái tết thật êm đềm, dù đất nước lúc đó đất nước
còn trong cơn lửa loạn nhưng mọi người vẫn bận rộn lo sắm tết.
Không kể đến khi quân Cộng sản miền Bắc xua quân chiếm trọn
miền Nam thì tất cả mùa Xuân thành ảm đạm, hàng triệu người
phải bỏ nước ra đi lánh nạn tìm tự do, hay bỏ thây trên đường
vượt biển . . .
Gợi lại giấc mơ xưa để dẫn ta
về quê hương cũ, những ngày xuân về tết đến được quây quần vui
của những niềm vui của tuổi thơ. Thật khó quên những ngày sắp
Tết đứng nhìn hạt mưa phùn như bụi của mùa Xuân, những giọt
mưa nho nhỏ đó rơi xuống bám vào trên từng cánh cúc vàng bên
thềm gió nhẹ bay. Nhưng nếu lúc đó trời đổi hướng trút xuống
một cơn mưa rào, thì ta lại đã cảm thấy được mùa xuân như đang
bắt đầu về trên những giậu hoa, hay ngay trên những ngọn cỏ
non xanh biếc. Phố xá bỗng được nước mưa trút xuống như có bàn
tay lau sạch để mọi người cùng vui Xuân. Những hàng cây trồng
dọc theo hai bên hè phố như gốc phượng, gốc me, những chiếc lá
non đã thấy mừng rỡ nhen nhúm ló ra, tất cả như cùng xuân mở
hội. Đáng kể nhất là hoa Đào
Nhưng nhắc tới hoa Đào ta phải
nhớ tới Vũ Đình Liên với thi phẩm tuyệt tác Ông Đồ Già:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Ngoại ô thành phố Hà
Nội, chênh chếch về hướng tây bắc của Hồ Tây có làng Nhật
Tân, là địa danh nổi tiếng về nghề trồng bích đào và đào phai.
Trước Hiệp Định Genève chia đôi đất nước năm 1954, tám mươi
phần trăm dân làng ở đây chuyên nghề trồng đào, họ khai khẩn
đến gần trăm mẫu đất, trồng hàng chục ngàn cây đào mới đủ cung
ứng nhu cầu thị hiếu chơi hoa đào vào dịp Tết của dân Hà Nội.
Loại bích đào hoa to,
mỗi cụm chỉ độ dăm bông, mỗi bông có 12 hay 14 cánh nhưng cũng
có loại loại bông kép có tới 32 cánh, loại này người ta ít
trồng vì không được ưa chuộng. Cánh hoa bích đào thì dầy có
màu hồng thắm, xếp thành nhiều lớp bao bọc nhị vàng phía trong
toả ra tua tủa; lá bích đào hình mũi mác mầu xanh biếc, cành
thì vươn thẳng đứng. Người ta nói bích đào là loại hoa đẹp
nhất, hiếm quí vì khó trồng vì nơi trồng phải có điều kiện
thích hợp.
Bích đào và đào phai
(đào ăn quả) xuất sứ cây giống từ bên Trung Hoa. Theo các nhà
khảo cổ học về cây trồng thì người Trung Hoa biết trồng đào ít
nhất cũng đã từ cả ngàn năm, bốn hay ngàn năm không chừng. Đào
từ Trung Hoa các nhà trồng tỉa đem sang Trung Á (Asie
Centrale), rồi vào Perse tức Iran (Ba Tư). Khoảng một thế kỷ
trước công nguyên, một người tên là Alexandre Le Grand mang
giống đào từ xứ Perse vào Rome (La Mã) nhưng mãi đến thế kỷ
thứ 17, cây đào mới được du nhập vào Mỹ Châu.
Các nhà thực vật học
đầu tiên tưởng Perse là quê hương của đào, nên đặt cho nó cái
tên khoa học là Prunus persica. Sau người ta biết là đã lầm
khi đặt tên ấy nhưng vì đã quen gọi lâu đời rồi nên người ta
vẫn giữ nguyên tên đó thay vì phải đổi là Prunus sinensis, họ
Rosacées. Ở Việt Nam ta từ nhiều đời người ta đã biết trồng
đào phai lấy quả để ăn, loại đào phai này có hoa cánh mỏng và
thưa, hoa màu hồng nhạt nhưng lá thì màu xanh đậm. Đào phai dễ
trồng, nó mọc vươn lên rất mạnh.
Vùng Hoàng Liên Sơn
có thị trấn Sa Pa là xứ sở của đào phai, nơi đây có nhiều nhà
ươm giống loại đào phai để bán cho những nhà trồng đào khắp
nước, dân làng Nhật Tân ngoại thành Hà Nội cũng mua giống đào
phai ở đây đem về trồng, cây trồng được một năm thì có đủ sức
để làm gốc ghép, khoảng tháng 11 dương lịch nhà vườn cắt một
nhánh bích đào ghép vào gốc cây đào phai và khi Tết đến thì
cành bích đào này cũng vừa chớm nụ xinh tươi nở hoa hồng thắm,
dân làng Nhật Tân nổi tiếng với những cành đào này khi họ tung
ra thị trường bán cho dân thị thành Hà Nội. Vì mỗi gốc đào
phai chỉ ghép mỗi năm được có một cành nên ta có thể đếm
những vết thẹo người ta tháp cho được một cành đào mỗi năm để
biết số tuổi, bao nhiêu vêt thẹo là bấy nhiêu tuổi.
Ngoài đào phai và
bích đào phát xuất từ Trung Hoa ra, ta còn có hoa anh đào
phát xuất từ nước Nhật. Ở Nhật người ta gọi hoa anh đào là
“quốc hoa”, vì dân tộc Nhật lấy hoa anh đào làm biểu tượng cho
quốc gia của họ nên người ta thường gọi Nhật là xứ hoa anh
đào, nó được trồng khắp nơi trên đất nước Phù Tang kể cả ở
những vùng đồi núi hẻo lánh hiểm trở, du khách đến gần nơi có
những ngôi chùa cổ kính rồi nhìn từ xa thì chỉ thấy mái chùa
thấp thoáng ẩn hiện dưới những lùm cây đào cổ thụ mờ mờ ảo ảo
như cảnh thần tiên thật nên thơ. Hoa đào nở vào mùa xuân nên
cứ mỗi độ xuân về hoa đào nở thì cả môt góc trời rực một mầu
hồng, tạo cho chốn thiền môn một vẻ vừa thanh tịnh vừa uy
nghiêm tạo thành một chốn tôn nghiêm thần bí nhuốm đầy đạo vị
làm cho lòng du khách cảm thấy đầy những xúc cảm gần cõi tiên
mà xa cõi tục.
Khoảng gần ba ngàn
gốc đào loại Yoshimo và Kwanzan được chở đến Hoa Thịnh Đốn do
lệnh của Nhật Hoàng đại diện cho chính phủ Nhật thân tặng
chính phủ Hoa Kỳ vào năm 1912, những cây này phần lớn đem
trồng dọc hai bên bờ sông Potomac tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Rồi kể từ năm 1934 chính quyền địa phương nơi đây thấy dân
Nhật mở Hội Hoa Anh Đào thì cũng bắt chước mở Hội Hoa Anh Đào
tập tục tốt đẹp đáng yêu này của đất Phù Tang. Nhưng thay vì
đi dạo ngắm hoa, ngồi thiền trà hay ca hát dưới hoa thì ở nước
Mỹ lại tổ chức kiểu khác, không điềm đạm tọa thiền ngắm hoa,
trái lại còn ồn ào bởi các cuộc diễn hành thi xe hoa có sự
tham dư của nhiều tiểu bang về thủ đô Hoa Thịnh Đốn tham dự lẽ
dĩ nhiên có các ban nhạc nổi tiếng của các khắp các tiểu bang
cùng về tham dư giúp vui thật náo nhiệt tươi vui. Vẫn biết
hàng năm hoa đào mở, nhưng không biết rõ ngày nào hoa đào nở
rộ, vì tuỳ thuộc vào thời tiết do đó những nhà tiên đoán thời
tiết phải đoán trước để định ngày lễ hội cho kịp lúc hoa anh
đào nở. Năm nào chẳng may đoán lộn quẻ hay mưa tuyết hay mưa
đá đột xuất làm hoa tàn lụi sớm thì những người tới dự Hội Hoa
Anh Đào chỉ còn cách trơ mắt ếch ra ngắm nhìn một cách thương
tiếc những cành trơ trụi tuyết bám phủ đầy hay ngắm những cánh
hoa phù du bị mưa gió vùi dập tan tác bên đường.
Nhật Hoàng cũng gửi
tặng nước Pháp nhiều gốc cây hoa anh đào vào đầu thế kỷ 20,
những cây này được đem trồng tại Jardin des Plantes tuy chỉ
vỏn vẹn vài chục cây nhưng có đủ loại, từ hoa anh đào loại
cánh đơn đến loại cánh kép, có hoa loại tỏa hương hay không
có hương thơm, hoa có mầu trắng hay phơn phớt hồng đến hoa có
mầu hồng đậm rồi tới hoa có đỏ thẫm.Tại vườn đào trong Parc de
Sceaux, có khoảng 150 cây, những cây còn sống nay đã thành
cổ thụ vì được trồng từ đầu thế kỷ 20 hiện nay chỉ còn lại độ
một phần ba tức là còn khoảng 50 gốc thành cổ thụ còn những
cây chết thì đã được thay thế ngay bằng những cây mới nên tới
mùa hoa thì vườn hoa anh đào bao giờ cũng nở rô thật xum xuê.
Những cây đào trồng ở đây đều thuộc loại hoa anh đào chính
gốc, nghĩa là chưa lai giống nên cây có chiều cao chừng 3 hay
4 thước, có loại hoa mọc thành chùm cánh hoa mỏng như vải lụa
Hà Đông toả hương thơm ngọt ngào, nhưng phấn hồng của hoa bay
trong gió cũng dễ làm khổ người bị dị ứng phấn hoa.
Tới mùa hoa nở thì
cành nào cành nấy đầy hoa chi chít nặng chĩu cả cành, nhiều
cành mang nhiều hoa quá nên nghiêng ngả cả xuống tận mặt đất
nhìn vào ta thấy như những lẵng hoa thiên nhiên khổng lồ được
đặt lên trên nền thảm cỏ non xanh vậy, trông rất mượt mà lại
thật dịu dàng. Du khách mà ngồi dưới gốc cây rồi ngước nhìn
lên ngọn cây thì thấy cả một trời hoa đào lồng lộng nên thơ.
Du khách lại nhìn ra tứ phía, thì thấy cả một khung trời màu
hồng bát ngát bao phủ khắp không gian, có thể phải kêu lên
rằng “Ôi đẹp quá, tôi đang được ngắm cảnh Thiên Đàng hạ giới”!
Người ta ví kiếp hoa
mong manh sớm nở tối tàn, kiếp hoa đào lại càng mong manh hơn
nữa, từ lúc hoa nở đến khi hoa tàn chỉ kéo dài được chừng ba
ngày, thời gian thật ngắn ngủi! Nếu nói đến cả mùa hoa anh đào
thì cũng chỉ kéo dài được khoảng ba tuần lễ là tối đa. Mùa hoa
anh đào bắt đầu từ đầu tháng tư, đầu tháng thì những đoá hoa
khai mào đầu mùa bắt đầu nở cho đến hết tuần thứ ba là những
cánh hoa cuối cùng rụng hết để vườn đào trở lại trạng thái
bình thường, nhưng dù như vậy thì vườn đào vẫn có vẻ hấp dẫn
riêng của nó, nhìn vào ta thấy tươi mát khi những cánh hoa bay
tơi tả khắp nơi trải thảm trên nền cỏ xanh tươi nhìn bao quát
cảnh vật thật nên thơ.
Cây đào được đem ví
với người phụ nữ bởi vì họ yếu đuối ẻo lả như liễu yếu đào
tơ.Trong chương thập tứ niên của Tả truyện, hoa đào lại được
biểu hiệu cho người phụ nữ có nhan sắc diễm lệ. Truyện kể rằng
nàng Tức Vỉ, vợ Tức Hầu đời Xuân Thu, có sắc đẹp chin sa cá
lặn. Sở Văn Vương rất mê nàng nên tìm cách diệt Tức Hầu rồi
đem nàng về phong làm chánh thất chỉ vì nàng Tức Vỉ chẳng
những có dáng đi dứng thướt tha mượt mà, lại còn có dáng yểu
điệu thục nữ, đặc biệt nữa là hai má nàng lúc nào cũng ửng
hồng như mầu hoa đào, nên nàng được người đương thời tặng cho
biệt danh “Đào Hoa Phu Nhân”.
Trong bài Đào Nguyên
ký của Đào Tiềm có viết rằng: Vào đời Tấn (245-419) có một
người thuyền chài chuyên nghề lưới cá ở Vũ Lăng, một hôm nọ
ông thuyền chài chèo thuyền đi ngược dòng sông, thấy mặt nước
có nhiều hoa đào trôi theo dòng nước đổ xuống, thuyền ông bị
dòng nước chảy xiết đã đưa ông lạc vào nơi trồng mà dân địa
phương trồng toàn là những cây đào, dân chúng nơi đây có cuộc
sống rất thanh nhàn an vui hạnh phúc. Về sau người ta dùng
danh từ “động đào”, “đào nguyên”, hay “nguồn đào” để chỉ nơi
tiên cảnh mà nơi đó có thần tiên ở. Truyện cổ nước Trung Hoa
có nói đến vườn đào của Tây Vương Mẫu ở tiên giới ở nơi này có
hoa đào nở quanh năm, hoa sinh trái đủ bốn mùa, tương truyền
rằng những ai mà được ăn trái đào tiên này sẽ trường sinh bất
lão (truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân cũng có nhắc tới chuyện
này). Những bức tranh hay tượng tam đa mà ta thường thấy hình
ba ông Phúc-Lộc-Thọ, ông Thọ bao giờ trên tay cũng cầm trái
đào, ý nói trái đào trên tay là ông là đã thay cho lời chúc
thọ. Trong tranh hay bán trong dịpTết để khách mua về treo ở
nhà nhân ngày đón Xuân thì có hình thằng bé mũm mĩm, giang tay
ôm trái đào tiên khổng lồ vào lòng cũng là có ý nghĩa chúc
trường thọ.Còn nếu ta muốn nói về chuyện ái tình thì không
thể không nhắc tới giai thoại Hoa Đào Thôi Hộ, vì truyện này
đã lấy hoa đào dựng làm nền cho một câu chuyện tình lãng mạn
nhất trong văn chương thi phú Trung Hoa.
Truyện kể rằng Thôi
Hộ, một danh sĩ đời Đường (618-907), nhân dự ngày hội Đạp
Thanh, chàng đi rong rổi rồi lạc đường đến Đào Hoa Thôn, ghé
vào Đào Hoa Trang mới cảm thấy khát nước và vì tản bộ đã lâu
nên cảm thấy thấm mệt. Vừa khát nước lai mệt nên đã gõ cửa
trang trại Đào Hoa Trang xin nước uống. Khi ông vừa gõ cửa thì
có một thiếu nữ ra mở cửa, nàng khép nép rụt rè đưa nước cho
chàng. Nàng rất xinh đẹp e lệ thục nữ, hai má nàng đỏ hây hây,
lại đứng dưới bóng cây hoa đào má nàng càng tươi thắm đẹp
tuyệt trần. Chàng Thôi Hộ nhìn nàng thấy nàng e thẹn nên ông
cũng thấy ngượng ngập, chàng đỡ bát nuớc nàng trao cho, uống
xong rồi vội vã cúi đầu chào từ giã ra về. Một năm sau đến
ngày hội xuân Thôi Hộ nhớ cảnh nhớ người nên chàng háo hức
trẩy hội Đạp Thanh và trở lại Đào Hoa Trang, chàng đến nơi
nhưng thấy cửa đóng then cài mà người thục nữ năm trước đâu
chẳng thấy, chỉ thấy muôn hoa đào vẫn rực rỡ đang mỉm cười
trong gió lạnh mùa đông. Cảm xúc quá chàng liền phóng bút đề
một bài thơ tứ tuyệt trên cổng nhà nàng:
Khứ niên, kim nhật, thử môn
trung
Nhân diện, đào hoa tương ánh
hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông
phong.
Phỏng dịch:
Ngày này năm ngoái tại cửa
này
Ngọc chuốt hoa đào, má đỏ
hây
Nàng đi biền biệt nào ai
biết
Hoa đào nơi đó vẫn cười tươi
Người thiếu nữ và
thân phụ đi viếng chùa xa mãi đến xế chiều mới trở về, hai
cha con chợt nhìn thấy mảnh giấy có viết mấy câu thơ ghim trên
cửa, nét bút như phượng múa rồng bay, đọc lên nghe tình ý
nồng nàn, nàng đoán ngay bài thơ và ý thơ là của người khách
du xuân dự hội Đạp Thanh năm ngoái, nàng cảm động lắm nên
sinh lòng tương tư.. Kể từ đó hàng ngày nàng có ý ngóng
trông... Nhưng hết mùa hoa đào này đến mùa hoa đào khác đã
trôi qua, mà chàng vẫn bặt vô âm tín nên nàng hết sức tuyệt
vọng, người thiếu nữ sầu khổ ốm tương tư, dung nhan mỗi ngày
một tiều tuỵ mặt nguyệt thêm xanh xao vàng võ. Cha nàng cố
gắng tìm thầy tìm thuốc cứu chữa cho đứa con gái mà ông cưng
chiều, nhưng mọi sự cố gắng của người cha đều không có kềt
quả vì:
Nhược hữu lương y viên tuyệt
mạng
Tùng lai vô dược liệu tương
tư.
Phỏng dịch:
Thầy giỏi thầy cứu mạng
người
Mấy khi thầy giỏi cứu người
tương tư
Rồi một mùa hoa anh
đào nọ cách mấy năm sau, nàng thấy mình sức khoẻ đã hao mòn
không thể sống nổi để đợi chờ mối tình tuyệt vọng nên thú thật
với cha già để xin tha tội bất hiếu vì công ơn sinh thành
dưỡng dục đến nay chưa đền trả. Người cha nhìn con gái thân
yêu đang trong cơn hấp hối mà ruột xót dạ đau, ông già nước
mắt tuôn tràn nuốt lệ vội chạy đi tìm cho ra người đã đề thơ
máng trên cánh cửa năm xưa thì vừa kịp lúc Thôi Hộ vừa tới
đang đứng trước cửa, ông già quyết chí đi tìm cho đươc người
đề bài thơ nay đã thấy người ấy nên luống cuống đến nỗi khi
vừa mở cửa chạy ra đường đã đâm bổ vào một chàng dáng vẻ văn
nhân đó. Thấy ông già nét mặt lão hốt hoảng, nước mắt đầm
đìa, chàng hỏi cớ sự, ông già phân trần chàng hiểu ra nên
liền oà lên khóc và thú nhận mình chính là kẻ đã đề thơ máng
trên cửa mấy năm trước đây tên và xưng danh là Thôi Hô.
Ông lão mừng rỡ,
cuống quít kéo chàng vào nhà… nhưng đã quá muộn vì khi chàng
vừa đến bên giường thì cũng chính là lúc người thiếu nữ thở
hắt ra những hơi thở cuối cùng, nàng trao lại cho chàng một
liếc nhìn yếu đuối nuối tiếc rồi nhắm nghiền cặp mắt xinh xắn.
Thôi Hộ hốt hoảng liền quì xuống bên giường, cầm lấy tay nàng,
rồi áp mặt mình vào mặt nàng khóc nức nở,. nước mắt chàng Thôi
Hộ vừa nhỏ xuống mặt người thiếu nữ thì lạ thay mắt nàng từ từ
hé mở, nàng đã tỉnh lại, bệnh tương tư của nàng đã biến mất
như một kỳ tích . Sau đó thi nhân Thôi Hộ đã trở thành thiên
tình sử Hoa Đào Thôi Hộ đã khép lại ở đây, nhưng vẫn còn ghi
lại đến ngày nay.
Tại Việt Nam nước ta
hoa đào đã đi vào lịch sử khi kể lại rằng vào Tết năm Kỷ Dậu
(1789), lúc mà vua Quang Trung đem đoàn quân từ Nam ra Bắc
dể tiêu diệt quân Thanh, đoàn quân ta đã tốc thắng đại phá
được 20 vạn quân Thanh xâm lược, vua Quang Trung liền sai quân
sĩ chọn lấy một cành bích đào đẹp nhất ở kinh thành Thăng
Long, rồi sai người phi ngựa mang gấp vào Phú Xuân để tặng
công chúa Ngọc Hân, thay thiệp báo tin mừng chiến thắng.
Trong truỵện cổ tích
có kể đến Từ Thức, động Bích Đào ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn,
gần núi Thần Phù, là di tích một câu chuyện thần tiên. Người
xưa kể rằng Từ Thức nguyên là tri huyện Tiên Du (Bắc Ninh),
vào ngày hội hoa mẫu đơn tại ngôi chùa sở tại, một thiếu nữ đã
vô ý làm gẫy cành hoa mẫu đơn thuộc giống qúy bị chủ hoa bắt
đền, nàng không có tiền đền nên khóc thút thít, chàng chạnh
lòng từ tâm nên đã cởi áo khoác ngoài bán đi để giải cứu cho
người thiếu nữ trót đánh gẫy cành hoa quý. Ít lâu sau đó Từ
Thức treo ấn từ quan về hưởng thú điền viên ngao du sơn thủy.
Một hôm hứng chí Từ Thức lên thuyền chèo chơi ngoài cửa bể
Thần Phù, thấy cảnh đẹp chàng bèn ghé vào bờ núi để làm thơ
vãng cảnh, rồi lạc đến một động tiên, chàng được gia đình ở
tiên giới nhận làm rể, gả con gái yêu là Giáng Hương cho
chàng nói là để đền ơn mà chàng đã bỏ tiền đền cành mẫu đơn bị
gẫy thuở nào khi nàng từ tiên giới xuống trần gian ngao du
nhân ngày lễ hội mẫu đơn.
Thế là chàng ở lại
Đào Nguyên chung sống với nàng Giáng Hương, tuy vui sướng nhởn
nhơ nơi tiên cảnh nhưng Từ Thức không nguôi lòng nhớ cố hương,
chàng xin trở về chốn cũ. Biết không thể giữ chân chàng ở tiên
giới lâu hơn được nên nhạc mẫu ban cho chàng vân hạc đưa về
chốn trần gian, còn Giáng Hương trước phút từ biệt, trao cho
Từ Thức một bao thư và dặn khi chàng về tới nhà ở trần gian
hãy mở ra mà đọc.
Chàng cỡi vân hạc bay
về đến quê, Từ Thức gặp biết bao là bỡ ngỡ vì cảnh cũ người
xưa đã hoàn toàn thay đổi vì người xưa cũng không còn. Chàng
hỏi thăm ông già bà cả trong làng thì có người cho biết, cụ tổ
ba đời của ông ta tên là Từ Thức, đi vào núi mất tích không
về đến nay đã cả 100 năm. Chàng Từ Thức bơ vơ lạc lõng như
vừa từ . . . trên trời rớt xuống nên chàng tính quay lại để
níu lấy cánh hạc để trở về động Đào Tiên, nhưng cánh hạc đã
bay cao vút tận chân trời rồi.Nhớ đến thư vợ dặn dò, chàng ra
xem mới hay trong đó nàng viết :
“Tình duyên trần tiên đã
đoạn, muốn tìm lại động Đào Hoa xưa chẳng còn được nữa đâu.
Chàng hãy an phận thủ thường – Ký tên:
Giáng Hương”.
Một thời sau đó Từ
Thức đi vào núi Hoành Sơn dẫy núi này gần Thanh Hoá rồi người
ta không thấy ông trở lại nữa.Cảm hứng về sự việc đã xẩy ra
trong truyện Từ Thức này, thi sĩ Tản Đà đã rung động trong
nguồn cảm xúc sáng tác ra bài từ khúc “Tống Biệt” :
Lá đào rơi rắc lối Thiên
Thai
Suối tiễn, oanh đưa, những
ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế
thôi!
Đá mòn, rêu nhạt
Nước chảy, huê trôi.
Cánh hạc bay lên vút tận
trời
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động đầu non, đường lối
cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng
chơi.
Văn Cao sáng tác bài
“Thiên Thai” nhằm ca ngợi cảnh đẹp thần tiên hạnh phúc mà hai
chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong truyện thần tiên của Trung
Hoa, hai người cùng được vui hưởng khi lạc tới vườn hoa đào
gọi là Đào Nguyên vui sướng hạnh phúc quá nên quên cả đường
về; sau này hai chàng phải trở lại trần gian mà vẫn còn lưu
luyến hối tiếc mãi:
Thiên Thai, chốn đây hoa
xuân chưa gặp bướm trần gian
Có một mùa đào cùng ngày
tháng chưa tàn phai một lần
. . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . .
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn
quên đường về
. . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . .
Nay tìm Đào Nguyên - Đào
Nguyên nơi nao?
Ta thấy ý thơ của Tản
Đà cho ta tư tưởng từ cõi tiên hướng về hạ giới là tâm lý
chung của thế nhân là con người ta sống ở nơi nào dù sung
sướng cách mấy thì cũng không thể quên được cố hương, họ muốn
tìm về thăm lại hay khi đã về cố hương rồi thì lại muốn ở lại
đó luôn. Nhưng khi mình đã ở lại đó mà cảnh cũ người xưa không
còn nữa họ cảm thấy bơ vơ lạc lõng thì sớm muộn gì họ cũng lại
tính chuyện bỏ nơi đó ra đi
Tại Trung Hoa, các
mầu sắc như mầu đào, mầu hoa anh đào... thường được sử dụng để
tả nhan sắc của người phụ nữ. Nhưng chưa chắc có tác phẩm
nào lại ca ngợi sức quyến rũ phi thường của đôi má đào người
đàn bà như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia
Thiều, sáng tác cuối thế kỷ thứ 18 :
Áng đào kiểm đâm bông não
chúng
Khoé thu ba dợn sóng khuynh
thành.
Bóng gương lấp ló trong mành
Cỏ cây cũng muốn nổi tình
mây mưa.
(Cung Oán Ngâm Khúc (CONK
câu15-18)
Má đào không thuốc mà say
Nước kia muốn đổ, thành này
muốn long.
(CONK câu 167-168)
Chỉ cần nhìn đôi má
đỏ hây hây như hoa đào trên gương mặt đẹp người con gái đã làm
chúa mến vua yêu vì có sức hấp dẫn mê hồn đến đỗi nhiều vua
quan yêu say đắm một cách mê muội đưa đến tình trang quan thì
mất thành, vua thì mất nước như chơi.
Nếu có dịp quý vị nên
dành thì giờ tới tận những nơi trồng đào vào mùa trổ bông ở
gần nơi quý vị đang sinh sống như ở miền Bắc VN thì thăm vườn
đào làng Nhật Tân ở gần thành phố Hà nội (nếu nhà cầm quyền
chưa đưa vào qui hoạch, hay lấy đất trồng đào để cất khách sạn
hay làm sân Golf cho dân tư bản Nhật, Đài Loan, Đại Hàn giải
trí). Các quý vị cư ngụ ở miền Nam VN thì đến viếng vườn đào
của thành phố Đà Lạt thơ mộng.(nhưng trước khi đến hãy hỏi
dân địa phương xem vườn đào Đà Lạt có còn hay đã mất). Nếu ở
Hoa kỳ thì đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ở Pháp thì đến vườn đào
Parc de Sceaux hoặc Jardin des plantes, khi đến bất cứ vườn
đào nào thì nên để cả tâm trí tận hưởng tất cả những vẻ đẹp
của nó: Như khi nhìn xa ta thấy mầu hoa rực rỡ, đến gần hơn
ta thấy cây hoa, cành hoa, nếu đến gần hơn nữa ta thấy cánh
hoa , nhị hoa, và nếu mình có khiếu biết nhìn một cách sâu sắc
thì chỉ một cánh hoa cũng đủ hàm chứa cả tinh hoa của tạo hoá
sáng tạo vì trong đó chẳng những có sự hiện diện của ánh sáng
mặt trời, ánh lung linh của trăng sao và tinh tú, còn có cả
gió mưa sương tuyết, đất nước và cả người làm vườn và sư hiện
diên của chính chúng ta. Thực như vậy vì nếu chúng ta không có
ý thức gì về cánh hoa đó thì nó đối với chúng ta như chưa từng
hiện hữu, có cũng như không nói chi đến những sự mầu nhiệm
kia.
Vườn hoa đào có vẻ
đẹp tinh khiết, nó cho ta hoa, đào phai còn cho ta quả ngon
ngọt đó là một ân sủng của Thượng Đế ban cho. Cảnh đẹp tươi
thắm tinh khiết làm cho mắt ta thư giãn, tâm hồn ta thanh
thản, nó giúp chúng ta sống vui, sống khoẻ với tâm hồn thanh
cao mà ta tưởng như đang được sống trong thiên đường hạ giới
vậy.
Tạ Xuân Thạc
Xuân Mậu Tí (2008)