Khi ta lênh đênh trên sóng nước biển khơi để ước mơ về một bến
đỗ nào đó th́ trong phạm vi văn chương
người ta gọi là bến mơ. Tôi đọc nhiều tài liệu viết về thành phố cổ Hội
An trong lănh địa của tỉnh Quảng Nam, tôi có ước mơ được một lần đến đó,
Bến Mơ Hội An. Trong dân gian cái thành phố cổ Hội An đó
c̣n được gọi tắt bằng tiếng thân
thương "Phố Hội", và tôi thích cái tên như vậy. Thành phố cổ Hội An chỉ
c̣n dư âm phồn thịnh của các thế kỷ trước, trầm mặc bên ḍng sông Thu
Bồn xanh biếc, chảy qua Hội An ra đến cửa Đại.
Thời thuộc địa Pháp người ta gọi nó là Faifoo
hay Haisfo. Bây giờ xin mời
độc giả theo tôi lưu lạc vào chốn di sản đă được thế giới đă vinh danh
này.
Đô thị cổ Hội An là một di tích
kiến trúc đô thị nằm cách thành phố Đà Nẵng về phía Nam 30km. Đây là một
điểm du lịch đầy nét độc đáo, rất đặc biệt của Việt Nam. Hội An đă là
một thương cảng và đă tiếp xúc với phương Tây rất sớm theo lịch sử Việt
Nam, nó có sức thu hút du khách hay thương nhân ngoại quốc đến đây v́ sử
học, địa lư, nghệ thuật, kiến trúc và hội họa. Hội An được xây dựng vào
giai đọan từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII. Trong sự kết hợp khá phức tạp
về di tích kiến trúc dân dụng ở khu đô thị có 80% công tŕnh vẫn con
nguyên vẹn. Hệ thống các công tŕnh hạ tầng công cộng như đường phố, lối
ngơ, cầu cống vẫn c̣n tồn tại. Cùng với sông thu Bồn, sông Hội An đổ vào
sông cửa đại để ra biển; cách xa 20 km là Cù Lao Chàm. Sinh hoạt của dân
cư ven sông tấp nập trên bến dưới thuyền.
Thương cảng Hội
An với tên gọi xưa kia là cảng Đại Chiêm được h́nh thành khi những
thương gia nước ngoài, nhất là từ hai quốc gia lân bang tại Châu Á
là Nhật Bản và Trung Quốc. Các thương gia từ hai xứ này đă từng bước
thiết lập cơ sở làm ăn thương mại để sinh sống cũng như buôn bán lâu dài
tại Việt Nam.
Thị xă nhỏ bé
nằm trên đất Quảng Nam này từng là nơi chứng kiến hai cuộc giao thoa văn
hoá lớn trong lịch sử dân tộc Việt: Lần thứ nhất cách đây hơn khoảng
năm thế kỷ, khi nước Đại Việt tiến về phương Nam mở mang bờ cơi, và lần
thứ hai cách đây hai thế kỷ, khi người phương tây theo các chiến thuyền
và thương thuyền Âu châu đặt chân lên
mảnh đất này với ư đồ truyền bá và thôn tính. Cả hai sự kiện lớn đó đều
kéo theo sự giao hoán, trao đổi văn hoá lớn lao và nền văn hóa Việt đă
vượt qua thử thách đồng hoá để tự biến cải và tồn tại vào cùng thời
cuộc. Sau này chúng ta thấy du khách tới Hội An, ngoài việc khám phá sự
b́nh dị chân thật trong tâm hồn người dân phố Hội,
họ sẽ mất nhiều thời gian chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính và êm đềm
trôi qua bao thời gian để các mái ngói phủ rêu xanh mướt và nét chạm trổ
tinh vi trong những căn nhà gỗ đă tồn tại từ hơn ba trăm chu kỳ thời
tiết xuân hạ thu đông. Bước chân vào khu phố cổ Hội An, bạn sẽ ngỡ
ngàng trước một thế giới riêng biệt, tách khỏi mọi biến chuyển và sức
phá huỷ của thời gian. Phố cổ vẫn c̣n đó, vẫn sừng sững uy nghi. Nét cổ
xưa lại không mang đặc tính Việt Nam. Những kiến trúc cổ như cầu chùa,
dẫy nhà cổ hai tầng quay lưng phía bến sông Hoài, Hội quán Quảng Đông,
Phúc Kiến... đang phơi ḿnh xuyên bao triều đại biến thiên của lịch sử
để con người hoài niệm về một thời dĩ văng xa xưa. Đặc biệt về khu đèn
lồng dượm nét Đông Kinh hay Nam Kinh thuở xa xưa đem Hội An về những
ngày tháng cũ khi các thương nhân ngoại quốc đến đây để lại cái văn hóa
đèn lồng này. Chính cái sắc thái văn hóa vay mượn này khiến người dân
địa phương đă sản xuất những đèn lồng và bày bán các loại đèn lồng làm
phẩm vật kỷ niệm Hội An. Biểu tượng văn hóa đèn lồng cũng đă giúp đời
sống kinh tế cho người dân địa phương này vậy.
Tôi đọc bài viết của nhà văn Thái
Tú Hạp, ông viết về nhiếp ảnh gia kỳ cựu trong làng nhiếp ảnh Hứa Văn
Bân, người của Phố Hội, để rồi tác giả kể về lịch sử Phố Hội với nhiều
chi tiết lư thú khai triển tầm hiểu biết của tôi về di tích độc đáo này
đă được một cơ quan văn hóa thế giới tuyên dương vào danh sách "Những di
sản văn hóa của nhân loại" th́ tại sao ta lại không hănh diện nhỉ. Hỏi
tức đă trả lời rồi, tôi rất vui khi đọc bản tin này. Trong cuộc họp ngày
1/12/1999 tại Marakech (Morocco) Ủy ban Di sản của tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đă
công nhận Hội An và Mỹ Sơn là di sản văn hóa quốc tế.
Thị xă Hội An nằm bên bờ sông Thu
Bồn. Nơi đây xưa kia đă có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các
thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Italia v.v.. đă biết đến
từ thế kỷ 16, 17. Từ thời đó, thương cảng Hội An đă thịnh vượng, là
trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một trong những trạm đỗ
chính của thương thuyền vùng Viễn Đông. Thị xă có những dăy phố cổ gần
như c̣n nguyên vẹn. Đó là loại nhà h́nh ống xuyên suốt từ phố nọ sang
phố kia. Trong đó có một dăy phố nằm sát ngay bờ sông Hội An. Nhà ở đây
toàn bằng gỗ quư, trong nhà treo hoành phi, câu đối, cột nhà trạm trổ
hoa văn rất cầu kỳ... và Hội An chính là một bảo tàng viện sống măi
trong cái kho tàng văn hóa chung của dân tộc.
Cũng theo Thái Tú Hạp th́ các di
tích kiến trúc nghệ thuật cổ kính đă chứng minh Hội An h́nh thành đầu
thế kỷ thứ 16 đă được các sử gia, các nhà địa chất và nhân chủng học
đánh giá là thị xă thương cảng đầu tiên ở Đàng Trong sầm uất phồn thịnh
nhất, với sự ḥa hợp nhịp nhàng tương đắc giữa nhiều sắc thái dân tộc,
văn hóa, tôn giáo khác biệt. Bản sắc văn hóa đặc thù này đă khai triển
thành truyền thống thăng hoa, viên dung đầy t́nh người từ thế hệ này đến
thế hệ khác, như lưu lượng êm đềm của gịng sông Hoài chảy qua giữa trái
tim Phố Hộị Hội An chẳng khác một ngôi làng Minh Hương sống chung ḥa
b́nh trong tinh thần đầy nhân bản khai phóng, đạo lư của tam giáo nhất
thể vi diệụ Từ thượng Chùa Cầu đến hạ Âm Bổn quây quần sống chung với
nhau trong niềm yêu thương trọn đầy, phát huy sáng tạo, trong t́nh nghĩa
tương thân tương áị Những t́nh cảm thật khó quên khi "Ở để mà thương.
Đi để mà nhớ". Cho dù Hội An mang
nhiều giai thoại trong dân gian như Hải Phố, Hoài Phố, Phải Phố, Hội Phố,
Hoa Phố, Hai Phố, Haisfo hay Fai Fo (hoặc FaiFoo) nhưng với người dân
sống trong thành Phố Cổ đó hoặc đang là lữ khách ngàn dặm xa, th́ Hội An
vẫn là Hội An thật êm đềm, thơ mộng, Hội An thật trầm mặc, cổ kính và
Hội An vẫn chứa chan bao kỷ niệm tuyệt vời. Có ai nhắc đến Hội An chắc
chắn không thể nào quên được những mái nhà âm dương đầy rêu phong, những
ngôi chùa Phước Kiến (Kim Sơn Tự), Âm Bổn, Quảng Triệu, Hải Nam, Chùa
Ông (Trừng Hán Cung hay Chùa Quan Thánh), Chùa Tĩnh Hộị… những tên gọi
thân thương như Cao Lầu Ông Cảnh, Hoành Thánh Bà Hai Huế, Bún Ḅ Bà Chỉ...
hay Hội An có những nhà nghệ sĩ nổi danh đă làm vẻ vang cho Hội An như
những v́ sao lấp lánh trên bầu trời văn học nghệ thuật của Việt Nam.
Giao thương với bên ngoài:
Trong một bài khác, tác giả Thái Tú Hạp lược dịch
bài viết của kư giả Richard S. Ehrlich khi ông ghé thăm Phố cổ Hội An,
bài đă đăng trên Tạp chí Dynasty nổi tiếng xuất bản tại Đài Loan. Kư giả
này ghi nhận những cuộc trao đổi, mậu
dịch giữa Việt Nam và các xứ qua các thương gia trung gian sang Hội An
mua bán, làm ăn. Địa thế Hội An thuận lợi v́ vốn kín đáo với thiên nhiên,
các thiên tai tàn phá những nơi khác nhưng hải cảng Hội An là nơi chốn
trú ẩn an toàn trong những mùa mưa giông băo táp. Trong thời gian mưa to
gió lớn này, những thương khách ngoại quốc có dịp lên bờ kết thân với
người bản xứ, lấy thêm tiếp liệu như nước ngọt, thực phẩm, trao đổi
hàng hóa và tu bổ tàu bè. Hội An cung cấp những mặt hàng được ưa thích
và nổi tiếng như trầm hương, sừng tê, ngà voi, bông vải, đồi mồi, trai
ốc, mật ong, cau khô, hồ tiêu, tơ lụa địa phương... Thương khách ngoại
quốc cũng mang đến những sản phẩm như trà, thuốc bắc, đồ sứ đủ màu tuyệt
đẹp, lưu huỳnh, vải vóc... Chính v́ lợi điểm của địa lư nên Hội An được
xem như trạm dừng chân lư tưởng khi gió mùa thổi ngang qua biển Nam Hải
trên tuyến đường Nam Bắc Á Châu. Vào mùa xuân, gió mùa đổi hướng thổi
những cánh buồm từ Nhật Bổn và Trung Quốc đến phương Nam và tắp vào hải
cảng Hội An. Đợi khi mùa hạ gió bắc thổi về những thương thuyền lại ra
khơi về cố xứ. Nhưng trong thời gian tạm dừng chân phiêu lăng, một số
trong những thương thuyền đă luyến lưu t́nh cảm với những cô gái bản xứ
nên quyết định t́nh nguyện ở lại xây tổ ấm tiếp tục mở cửa hàng buôn bán
và chọn Hội An làm quê hương thứ hai đến trọn đời.
Khoảng thời gian năm 1600,
thương thuyền Nhật đă xây nên cầu Nhật gọi là Lai Viễn Kiều hiện nay,
với lối kiến trúc hoàn toàn của bản sắc văn hóa Nhật. Theo truyền thuyết
của người địa phương cho biết người Nhật xây cầu Nhật Bổn này để chống
động đất. Nơi yếu điểm thân ḿnh của con Rồng vĩ đại mà đầu ở Ấn Độ và
đuôi ở Nhật Bổn, nếu không yểm bằng kiếm thiêng, con Rồng sẽ vươn ḿnh
làm cho thiên tai khủng khiếp có thể xảy ra không lường mức độ thiệt hại
về nhân mạng và vật chất. Cùng thời gian đó các người Trung Hoa cũng đă
h́nh thành khu phố Quảng Đông, trung tâm buôn bán với người bản xứ. Cuối
thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Pháp đă theo
các thương thuyền ghé đến Hội An để truyền đạọ Một trong những vị giáo
sĩ lừng danh nhất của Pháp sau này quen thuộc với người Việt là
Alexandre Rhodes đă đến Hội An và tại thành phố cổ kính ông đă sáng tạo
ra chữ quốc ngữ từ tiếng La tin, dễ đọc và thông dụng cho đến ngày nay.
Vào thế kỷ 18 và 19, những biến cố tang thương v́ sự tranh ngai giữa
những nhân vật trong hoàng tộc ở kinh thành Huế đă phá hủy di sản quư
báu cổ kính của Hội An.
Lịch sử Hội An:
Tham khảo bài của nhà văn Nguyễn
Qúy Đại từ Đức quốc trong bài "Hội An - Quảng Nam trong Lịch Sử", ông
duyệt qua sự h́nh thành vùng đất có di sản hiếm quư Hội An được tóm tắt
sau đây.
Hội An đă trải qua nhiều thăng trầm, qua nhiều lịch sử biến thiên nhiều
triều đại. Thời vua Lê Đại Hành (980-1005) muốn ban giao với Chiêm Thành,
nhưng vua Chiêm (Paramecvarvarman) hiếu chiến bắt giam sứ giả, Năm 982
Lê Đại Hành đem quân trừng phạt đến kinh đô Indrapura của Chiêm Thành (ngày
nay gọi là Đồng Dương) giết vua Chiêm Paramecvarvarman rút quân không
chiếm đất. Chiêm Thành lo sợ Đại Việt, năm 1000 dời kinh đô vào vùng
Vijaya (B́nh Định).
Đến thời vua Lư Thánh Tông (1054-1072), là vị vua đầu tiên mở mang bờ
cỏi xuống phía Nam... người Chiêm khi đó thường quấy phá người Việt, Lư
Thánh Tông đem quân đánh tới Đồ Bàn năm (1069) bắt vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman
III) Chế Củ nhường 3 châu thuộc phía Bắc Chiêm Thành là Bố Chánh (nay là
phía bắc Quảng B́nh), Địa Lư (nay là Quảng Trung và nam Quảng B́nh) và
Ma Linh (hay Quảng Trị) đổi lấy tự do. Được đất xong, nhà vua chiêu mộ
dân chúng đến khai khẩn đất đai.
Lịch sử thay đổi qua nhiều triều đại đến đời Trần Thánh Tông (1258-127
nhường
ngôi cho con Trần Anh Tông (1293-1314). Làm Thái Thượng Ḥang sang thăm
Chiêm Thành hai nước Việt Chiêm ban giao tốt đẹp. Có thể ngài thấy từ
Quảng Trị trở ra đất hẹp khô cằn khó phát triển, phương Bắc Trung Hoa
luôn quấy phá, bước qua đèo Hải Vân về phía Nam là đồng bằng ph́ nhiêu,
bờ biển trải dài, hy vọng phát triễn về kinh tế... Vùng đất hứa hẹn cho
tương lại nên ngài hứa gă Huyền Trân Công Chúa cho Chế Mân. Năm bính ngọ
1306 Vua Chiêm là Chế Mân ( Jaya Simhavarman ) trị v́ năm (1288-1307)
làm lễ thành hôn với Huyền Trân Công Chúa,được tấn phong làm Hoàng Hậu
gọi là Paramecvari. Chàng rể Chế Mân làm sính lễ dâng hai Châu Ô và Châu
Lư, cuộc hôn nhân nầy tạo ngoại giao tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Chiêm.
Trần Anh Tông (1293-1314), tức anh của Huyền Trân Công Chúa, thâu nhận
hai Châu trên đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu. Hoá châu gồm Điện Bàn và
Duy Xuyên ngày nay. Đại Việt cho di dân đến khai phá, từ đó có cơ hội
cho các Triều đại kế tiếp tiến dần về phương Nam.
Năm 1307 Vua Chế Mân từ trần theo tục Chiêm Thành, Hoàng hậu Paramecvari
tức Huyền Trân phải hỏa thiêu theo chồng. Tục lệ nầy người Ấn giáo c̣n
áp dụng gọi là Suttee (trà tỳ) sau năm 1829 th́ được bỏ hẳn.
Vua Trần Anh Tông thương em, cử phái đoàn do tướng Trần Khắc Chân sang
Chiêm Thành chia buồn, lợi dụng cơ hội nầy giải thoát Huyền Trân đem về
nước. Do đó có thể ngoại giao của hai nước Chiêm và Việt từ đó bất ḥa.
Khi triều dại nhà Trần suy yếu th́ bị nhà Hồ chiếm ngôi, Chế Bồng Nga (Pô
Bin Swor 1360-1390) vị vua mạnh nhất của Chiêm Thành đem quân sang đánh
phá Đại Việt vào các năm 1377 và 1378. Năm 1390 đánh Thanh Hoá, tiến lên
sông Hồng đánh nhau với tướng Trần Khắc Chân, Chế Bồng Nga bị Ba Lậu Kê
làm phản chỉ điểm. Chiến thuyền của Chế Bồng Nga bị bắn trúng tử trận.
Từ đó Chiêm Thành bị suy yếu.
Vua Hồ Hán Thương (1401-1407) sai Đỗ Măn đem quân đánh Chiêm Thành. Vua
Chiêm Ba Đích Lại (Virabhadravarman) thua nhường đất Chiêm Động (Thăng
B́nh) Thượng Hoàng Hồ Qúy Ly đ̣i thêm miền Cổ Lũy Động (Quảng Ngăi).
Quân Minh đánh Đại Việt, bắt gia đ́nh nhà Hồ (1407) Vua Chiêm là Trà
Toàn lợi dụng lúc thay chủ đổi ngôi, đem đại quân đánh chiếm phần đất đă
nhường cho nhà Hồ.
Thời Lê Thánh Tông (1460-1479) bị Chiêm Thành đem quân quấy phá. Vua Lê
phản công hành quân tới Kinh đô Đồ Bàn 1471 bắt Trà Toàn và Trà Toại.
Chấm dứt chiến tranh Việt Chiêm, chiếm vùng đất mới đổi tên thành Hoài
Nhơn, và sát nhập vào bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghiă, trở thành Quảng
Nam Thừa Tuyên Đạo. Danh từ Quảng Nam từ đó được chính thức đi vào lịch
sử Việt Nam, mà trong đó có vùng đất Hội An.
Chung qui ư nghĩa của Quảng Nam tức là mở rộng về phương Nam, bắt đầu
trang sử mới cho lưu dân Việt xuôi Nam tiếm, từ đó khai phá và mở mang
bờ cỏi đến đồng bằng sông Cửu Long (Mekong).và dừng lại năm 1884 khi
thực dân Pháp chiếm Việt Nam và các nước Đông Dương.
Quảng Nam vốn được xem là vùng đất "Địa
linh nhân kiệt; Ngũ Phụng tề phi", vùng đất bất khuất, nơi đă
phát động các Phong Trào: Nghiă Hội (1885-1887) phong trào Đông Du
(1903-1905) và phong trào Duy Tân (1906-1908) là những ngọn đuốt soi
đường chống Pháp giành độc lập cho nước nhà.
Hội An - vùng đất Văn Hóa:
Theo tài liệu của Thái Tú Hạp gom
góp sơ khởi cho ta thấy quả thật Hội An là cái nôi đào tạo bao khuôn mặt
sáng chói của nền văn hóa Việt Nam. Người đất Quảng Nam nói chung hay
Hội An nói riêng phải hănh diện lắm. Này nhé, ta hăy duyệt qua danh sách
dù chưa đầy đủ hết, nhưng cái ư niệm về nhân tài trong văn học đă được
sách vở ghi nhận nhiều rồi. Trong những tên tuổi sáng chói lừng lẫy này
chúng tôi xin đan cử về văn học có anh em Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch
Lam... chủ trương Tự Lực Văn Đoàn. Nhà thơ, dịch Hán Văn, Diệp Truyền
Hoa, Khương Hữu Dụng. Nhà văn, biên khảo Nguyễn Văn Xuân, Trương Duy
Huy, Nhà thơ Vũ Hân, Luân Hoán, Hoàng Lộc, Vơ Đại Tôn... Kịch tác gia
Thái Trữ. Tài tử điện ảnh La Thoại Tân, Lưu Bạch Đàn. Họa sĩ Lô Ka. Nhạc
sĩ Lê Trọng Nguyễn, La Hối, La Gia Quảng, Dương Minh Ninh, Trương Duy
Cường, Trương Duy Mănh, Huỳnh Nhâm, Phan Huỳnh Điểu... Và nhiếp ảnh gia
quốc tế Hứa Văn Bân.
Viết về Hội An tôi đă xem nhiều từ
văn đến thơ, rồi thơ lại quyện vào trong văn, nếu như Thái Tú Hạp tả
những nét đẹp xa xưa của nét cổ kính, trầm mạc của khu phố Haisfo, từng
chi tiết quyến luyến trong kư ức như chiếc cầu Nhật Bản được coi là biểu
tượng, Hội An c̣n chứa đựng một kho di sản văn hoá lịch sử vô giá với
160 ngôi nhà cổ, 5 hội quán, 20 giếng cổ cùng với một số lượng lớn chùa,
cầu, miếu đ́nh, nhà thờ tộc, hội quán như miếu Quan Công, Hội quán Quảng
Đông, hội quán Phước Kiến, chùa Phúc Chánh... th́ trong bài "Mùa Xuân
Thương nhớ Hội An" của nhà văn Trần Trung Đạo cho thấy nỗi buồn vơi khi
nhà cầm
quyền
Cộng Sản
ngự trị Hội An trong nỗi sợ hăi, tràn đầy nước mắt quê hương của người
dân Hội An sau năm 75. Tôi đọc ư tưởng của nhà văn bạn tôi nghe
như
nấc nghẹn nỗi ḷng:
"Bạn
bè nay chẳng c̣n ai
Dăm đứa ở lại đạp xích lô
Dăm đứa về quê làm ruộng
Có đứa dường như đă vượt biên
Có đứa bỏ mộng làm thầy để đi bán sách
Phượng bây giờ chắc đă có chồng
Nước Mỹ xa xôi chẳng có ǵ đáng nhớ
Những ước mơ xanh và một thời mộng đỏ
Sẽ vàng hoe theo những tháng năm quên...
Đoạn thơ trên tôi viết cho Sài G̣n 1978 nhưng cũng rất thích hợp với Hội
An v́ Phượng là tên của một người con gái Hội An rất đẹp mà tôi mượn đem
vào thơ. Một điều mà mọi người thường nói và được biểu đồng t́nh "không
có nơi nào đẹp hơn quê hương ḿnh". Đối với những chàng trai bỏ xứ ra đi
hay bị đẩy ra khỏi xứ th́ cần thêm câu "và cũng không có con gái nào đẹp
hơn con gái ở quê ḿnh". Tôi ít viết về những người con gái Hội An không
phải bởi v́ Hội An thời tuổi tôi có ít người con gái đẹp, nhưng v́ tôi
chẳng có một mối t́nh nào đủ lớn như cỡ "Ba năm sau em trở thành thiếu
phụ, ngồi ru con như ru phận ḿnh...." của nhà thơ Đynh Trầm Ca để mang
vào thơ...".
Nói tới Hội An, thiết nghĩ chúng
ta hăy đọc lại bài thơ bất hủ của nhà thơ xứ Quảng, Bùi Giáng, ông kể về
Hội An trong tâm tưởng như sau:
Hội An
Mơ màng phố cũ hoang liêu
Cánh buồm con sóng sương chiều Hội An
Tờ mây chan chứa mộng vàng
Tuổi đời em kết mấy ngàn cánh hoa
Mừng vui giọt tuổi chan hoa
Bước đi từ đó gió xa bay về
Ngậm ngùi đàn lệ ai nghe
Cộ nguồn bên tháng năm thề xẻ chia
Dấu mờ hoen hận c̣n kia
Hồn trăng soi bóng sầu khuya một bờ.
Bùi Giáng
Tôi đọc qua
bài văn "Hội An, thành phố của hoài niệm" của nhà văn Vũ Kư miêu tả cuộc
sống b́nh lặng của Hội An tỉnh lẽ theo ḍng hoài niệm của ông, rồi Vũ Kư
kể về kỷ niệm với nhà văn Tạ Kư tại Hội An trong cái t́nh thầy tṛ năm
nào, kỷ niệm quyện vào không gian và thời gian năm cũ trong bối cảnh của
hoài niệm khôn nguôi như: "Nào con đường Chùa Cầu có cái tên Pháp, gợi
chính nền văn hóa xa xưa: "Rue du Pont Japonais" và con đường Quảng Đông
(Rue des Cantonais) song song từ đầu đến cuối thành phố, chạy dài ra măi
ngoại ô đầy những xóm nhà chi chít lụp xụp nằm không cân đối ở hai bên
vệ đường đá sỏi. "Chùa Cầu" (Chùa Nhật Bổn) tối om, trên lợp mái ngói
thấp trệt với những thanh gỗ bắc ngang qua con sông hẹp, mỗi khi có xe
cộ lưu thông rung rinh vang lên các âm thanh rập ŕnh liên tiếp. Dưới
cầu, ḍng nước róc rách không ngừng, chỉ nghe tiếng nước mà không thấy
ḍng nước chảy đâu hết. Một cái chùa nhỏ - thấy đó mà không bao giờ tôi
bước chân vào - được dựng lên giữa cầu ở hai bên trông thật ngộ nghĩnh.
Ở đầu và cuối cầu, có hai bàn thờ bằng gỗ đỏ chói, hai con khỉ đội khăn
đỏ ngộ nghĩnh, ngồi lầm ĺ, khói hương nghi ngút...Thầy tṛ chúng tôi đă
nhiều lần dừng lại cầu, chiêm ngưỡng hai cái tượng khỉ với nhiều cảm xúc
hay hay... ». Dù tôi không được dịp học với nhà văn Vũ Kư tại trường
Petrus Kư, nhưng đọc văn ông vẫn xao xuyến trong tôi như vị thầy khả
kính,
trong chuyến thăm Dallas tôi gặp em của ông là họa sĩ Vũ Hối, chúng tôi
bàn về những án văn của Vũ Kư. Bài văn này cho tôi nét đặc trưng về Vũ
Kư với Hội An ngày cũ. Nếu Vũ Kư viết về kỷ niệm quê hương th́ bạn tôi
nhà văn biên khảo Nguyễn Quư Đại đă viết bài sưu khảo nghiên cứu về lịch
sử và nguồn gốc h́nh thành Hội An mà tôi đă tham khảo trong phần sử lược
bên trên.
C̣n rất nhiều bài viết do người
sinh trưởng tại Hội An hay đến đó ăn học hoặc sinh sống trong một khỏang
thời gian đủ dài để họ nói lên cái tâm t́nh lưu luyến với Haisfo, hay
Phố Hội, hoặc rỏ ràng hơn phải là thành phố
Hội An đáng yêu trong tiếng Việt ngữ, nhưng trong giới hạn của
bài viết xin hẹn Hội An lần khác vậy.
Ngoài ra, tôi có nhiều trao đổi với nhà văn Nguyễn Vy Khanh tại Canada,
ông viết biên khảo quê hương, ông chia sẻ kinh nghiệm về Hội An, nơi ông
đă đến và biết nhiều hơn tôi. Sau đây là phần tŕnh bày cuối cùng về đất
Hội An qua các món ăn địa phương, như một góc nh́n của văn hóa dân tộc,
quê hương.
Ẩm Thực Hội An:
Khi tôi viết về một góc trời quê
hương đất nước tôi thích nh́n tứ góc cạnh dân sinh, mà ẩm thực hay các
món ăn đặc thù của địa phương đó đóng góp vào cái văn hóa chung và nền
kinh tế cho dân sinh tại đó. Dĩ nhiên, Hội An như bất cứ vùng nào trên
quê hương, nó có những món ăn rất đặc sắc, đặc thù như:
Tham khảo bài viết của Người Xứ
Quảng trong bài viết "T́m hiểu Cao lầu Hội An" từ trang nhà Xứ Quảng
th́ tác giả đưa ta vào lịch sử của món ḿ, như loại ḿ Cao lầu hay vắn
tắt là Cao lầu , tên nghe sao là lạ, nhưng chất chứa ư nghĩa sang sang
như thế nào đó. Tôi đọc bài viết để hiểu như người không sinh ra tại
vùng đất Hội An, nhưng vốn ghiền món ḿ lắm lắm. Khi ghé phố cổ Hội An
ta không thể bỏ qua món Cao lầu. Cao lầu từ lâu đă được nhắc đến
như món ăn tiêu biểu góp phần làm nên cái hồn ẩm thực của phố Hội. Hội
An có món đặc sản Lầu ông Cảnh, Tam Bành bánh xèo. Ngày trước tại Hà Nội
người ta thường gọi những nhà hàng sang trọng của người Hoa là cao lầu.
Trong văn chương th́ nhà thơ vốn được tiếng ăn chơi của đất Nam Định là
Vị Xuyên Trần Tế Xương đă từng tự thú: "Nghiện trà, nghiện rượu, nghiện
cả cao lâu...". Và nó có chút ǵ dính líu ǵ với thú cao lâu gắn bó với
việc vui chơi đàn hát của các ca nhi thuở trước? V́ chữ lầu trong “cao
lầu” c̣n có thể đọc trại ra thành là “cao lâu”, cho thanh âm nghe nhẹ
nhàng hơn chăng <?>. Chung qui cao lâu là nơi gặp gỡ của dân tứ xứ từ
trong nước cho đến nước ngoài, ai dám đoan chắc rằng trước đây thú cao
lâu đă không có mặt ở Hội An. Rồi tôi bâng khuâng trong trí tưởng là
chẳng rơ như thế nào nữa, chứ như nhà thơ tài hoa Cao Bá Quát cũng đă
từng tham gia vào một buổi chơi đàn hát tại phố Hội An và nơi đây ông đă
gặp lại một người quen cũ vốn là ca nhi ở Đàng Ngoài... Trở lại vấn đề
là dù thế nào th́ cao lầu cũng vẫn là món ăn riêng của Hội An. Nó đă
chất chứa nhiều vấn đề lịch sử và văn hoá hết sức thú vị.
Để có được tên gọi và vị trí như ngày nay chắc hẳn nhiều thế hệ cư dân
địa phương đă bỏ nhiều công sức để t́m ṭi, nghiên cứu trong bao công
tŕnh chế biến. Hoa kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn của họ,
người Minh Hương cũng vậy. C̣n một số nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng
cao lầu có nét giống món ḿ ở vùng Icé (Ice udon). Họ đă nhiệt t́nh, sốt
sắng mang đến Hội An món này để người dân ta dùng thử. Tuy vậy so với
cao lầu th́ hương vị và cách chế biến của món ḿ Nhật này khác. T́m hoài
trong kư ức dân gian, may mắn chúng ta gặp được từ "Ḿ gỗ". Th́ ra trước
đây cao lầu c̣n gọi là "Ḿ gỗ". Lư thú làm sao! Tên gọi này đă chỉ rơ
nguồn gốc ḿ của cao lầu. Điểm khác với ḿ Quảng là nó được làm ra để
phục vụ nhu cầu ẩm thực của dân cư ở khu vực phố thị. Do vậy ở các vùng
quê cao lầu hầu như vắng bóng. Có thể nói cao lầu là loại ḿ khô, ḿ phố
Hội mà sợi ḿ cao lâu phải ráo và được trộn nước tro để khử chua. Do vậy
có thể giữ được lâu mà không sợ mất chất phẩm. Thịt (xá) xíu hay tép mỡ
cũng là những đồ ăn có thể giữ lâu, không sợ bị mùi hôi, thiu nếu để qua
đêm. Đây là một cung cách khá phổ thông được áp dụng trong dân gian nhằm
kéo dài thời gian sử dụng của sợi ḿ và nhân ḿ.
Đồng thời, cao lầu lại là món ăn khô, ngon
miệng, vị ḍn, vừa dễ bưng dọn, trên cao hết lại mang vẻ sang trọng, phù
hợp với thói quen ẩm thực sinh hoạt của giới thị dân thành phố, vốn
thích ăn hàng.
Ḿ cao lâu làm như thế nào?
Sợi cao lầu được chế biến công phu. Người ta ngâm gạo vào nước tro tàu
được lọc kỹ, sau đó xay thành nước bột. Công dụng của nước tro tàu làm
cho cọng ḿ rất ḍn khi ta nhai vào. Xong dùng vải ḅng nhiều lần để bột
khô và dẻo. Cán bột thành miếng vừa cỡ, sau đó xắt thành con ḿ, đem hấp
nhiều lần và phơi khô để làm sợi ḿ cao lầu. Nói tuy nói nghe thật đơn
giản, nhưng khi thực hiện rất công phu, đ̣i hỏi phải có kinh nghiệm.
Nghe đâu trước đây phải dùng loại tro nấu từ Cù Lao Chàm
là ngâm gạo th́ mới tạo được độ gịn,
dẻo khô đặc trưng của sợi cao lầu. V́ tro củi Cù Lao Chàm chứa nhiều
chất muối chăng? Nước xay gạo phải là nước giếng Bá Lễ, một giếng nước
rất nổi tiếng về độ không phèn, nhất là nước mát lạnh tự nhiên. Cao lầu
không cần nước lèo, nước nhưn, thay vào là thịt (xá) xíu, nước (sốt xá)
xíu, tép mỡ. Tép mỡ cũng là một nguyên liệu phụ khác lạ, trước làm bằng
da heo chiên gịn, nay thay bằng bột làm sợi cao lầu. Để bớt béo người
ta dùng kèm với giá trụng, rau sống. Khi bán, người ta lấy vợt trụng (nhúng
vào nước sôi) giá, trụng ḿ. Đổ giá ra tô, xé ḿ lên bên trên. Sắp thêm
mấy lát thịt xíu hay thịt ba chỉ tuỳ khách ăn. Đổ tép mỡ, cho thêm một
muỗng mỡ heo chiên sẵn ngay ở ḷ bên. Như vậy chúng ta đă có được tô cao
lầu mang đầy nét thẩm mỹ mà lại ôi thôi thơm phức, mang nhiều hương vị
hấp dẫn dạ dày thêm. Rau thơm dùng cho cao lầu phải là loại rau thân nhỏ,
vị đậm, nhiều mùi thơm của Trà Quế. Sợi Cao lầu không được mềm mà phải
gịn, khi nhai có cảm giác sựt sựt. Loại heo dùng thịt để xíu là giống
heo cỏ, thịt săn, thơm, mỏng da, nhiều nạc. Nước thịt xíu do vậy, vừa có
vị ngọt thơm của thịt, vừa có hương vị riêng được chế biến từ một số gia
vị như nước đường, x́ dầu, mắm, bột thơm... Trước đây, tại Hội An có các
quán cao lầu ông Cảnh, Năm Cơ rất nổi tiếng. Những khách ở xa khi đến
Hội An đều nấn ná ghé lại các địa chỉ này để thưởng thức cho được món
cao lầu phố Hội. Câu ca dao diễn tả rằng:
"Hội An có Hạ-uy-di, chùa Cầu, Âm (Ông) Bổn, cao lầu Năm Cơ"
Ngày nay, với tiếng thơm sẵn có, món cao lầu Hội An đă làm những cuộc
viễn du đến các vùng đất xa lạ ở Pháp, Anh, Mỹ, Úc, gần hơn là Sài G̣n,
Quảng Ngăi, Đà Nẵng. Thế nhưng ở những nơi này, người ăn dường như thấy
thiếu vắng một hương vị, một cảm giác nào đó. Phải chăng khẩu vị của họ
đă thay đổi? Hay là cao lầu đă được cải biến so với cái mùi vị nguyên
thủy xa xưa. Hoặc do tách khỏi môi trường gốc, nơi đă từng một thời nổi
tiếng nên cao lầu mới giảm đi hương vị hay là thực khách cứ măi mang tâm
lư so sánh vốn hoài hương. Dù thế nào đi nữa, chúng ta hăy giữ đừng để
mất đi món cao lầu, tên gọi cao lầu trong tâm tưởng mọi người. Tác giả
Người Xứ Quảng nhắn nhũ là đừng làm cải biến phẩm chất mang hương vị quê
hương của món cao lầu để các thế hệ mai sau vẫn c̣n cảm nhận được cái ư
vị, cái tinh tuư của món ăn này.
Hội An nói
riêng hay Xứ Quảng nói chung c̣n có vô số món. Nhưng tiêu biểu qua món
ḿ cao lầu không thôi đă cho ta thấy cả nét đặc sắc như cọng ḿ phải
ḍn, rồi nào là lát thịt săn mỏng da, nào hương vị tép mỡ, rau thơm, và
nào là nước lèo có hương thơm của chất thịt. Tất cả các yếu tố được gọi
là ḿ cao lầu sẽ làm cho khách thưởng ngoạn đê mê
vị giác và
ghiền măi món ngon quê hương Hội An. Món ḿ cao lầu sẽ giúp tôi kết thúc
bài viết này với chút mong ước hương vị của nó đem quí vị gần gủi với
phố Hội hơn.
oOo
Sau hết, qua phần tŕnh bày của bài
viết này cốt yếu
mang độc giả từ những yếu tố, những nguyên do lịch sử, thời thế đă tạo
thành vùng đất Hội An, những di tích cổ xưa nay được quốc tế công nhận
như thành phố quí báu cho ta, những người Việt Nam hănh diện về quê
hương đất nước ḿnh. Lại c̣n hănh diện thêm yếu tố dồi dào nhân tài về
văn học, mà Quảng Nam có Hội An
vốn được tiếng thơm như là vùng đất "Địa linh nhân kiệt; Ngũ Phụng tề
phi", như một cái nôi văn học của quốc gia. Đó là nói về yếu tố "Học".
C̣n ẩm thực ăn uống Hội An cũng chẳng thua kém những vùng khác, nhất là
món ḿ cao lầu như một điển h́nh. Đó là
xét về yếu tố "Ăn". Thế th́ phải
chăng Phố cổ Hội An là chốn "Ăn Học"? Vâng, xin thưa tôi tin chắc nịch
là như vậy.
Người viết xin
cám ơn tài liệu được tham khảo từ các nhà văn Vũ Kư, Thái Tú Hạp, Nguyễn
Quư Định, Nguyễn Vy Khanh và Trần Trung Đạo để hoàn tất bài viết ngắn
này về vùng đất quê hương Hội An.