Đôi ḍng phi lộ...
Chiều
cuối tuần tôi ngồi đọc tập sách "Hành Tŕnh Biển Đông" và bài viết "Hành
Tŕnh Biển Đông: Tự Do, Một Nhu Cầu Thiết Yếu, Đáng Để Ta Đi T́m" của
nhà văn Mỹ khi ông nhận dịch tác phẩm này sang Anh ngữ. Cuối cùng
ông đưa ra nhận xét là: "Những mẫu chuyển trong cuốn sách này cần
phải được nhiều người đọc. Nói như vậy có nghĩa là không những những
mẩu chuyện có tính kích động cao và sẽ thu hút người đọc hết toàn bộ
quyển sách, mà tôi muốn nói rằng những mẩu chuyện này cần một lượng
độc giả to lớn bởi v́ chúng biểu lộ, một cách tài t́nh lẫn kinh
hoàng, một trong những khát vọng của nhân loại, đó là Tự Do của con
người! Tôi có một cảnh báo trước! Những mẩu chuyện vượt thoát trong
quyển sách này sẽ không ngự trị măi trong đầu óc bạn mà sẽ thẫm thấu
vào tim bạn và ch́m sâu vào tận đáy của linh hồn bạn. Bạn sẽ tự nhận
ra rằng bạn đang suy nghĩ xem bạn có thể làm được việc mà những tác
giả của những mẩu chuyện đă làm: trốn thoát một địa ngục trần gian
đi t́m Tự Do."
Nh́n lại lịch sử của người Do Thái khi đi t́m
Đất Hứa (Exodus) năm xưa được ghi nhận trong sách vở là cuộc hành
tŕnh t́m tự do của dân Do Thái, do Moses với sự dẫn đường của Thiên
Chúa để dẫn dắt dân Người ra khỏi Ai Cập, băng qua Biển Đỏ để đi
trong sa mạc 40 năm để về Đất Hứa. Lịch sử Hoa Kỳ cũng ghi nhận cuộc
t́m Đất Hứa Mỹ Châu là khi nhóm người Puritan và Pilgrim ở bên Anh
quốc bị chính quyền hà khắc đàn áp, họ đă vượt Đại Tây Dương để vào
Tân Thế Giới năm 1607 và đặt những viên đá đầu tiên để xây nên cái
mà được gọi là một nền văn minh mới (new civilization), xây nên một
quốc gia và xă hội Hoa Kỳ mà sách vở gọi là Tân Thế Giới. Gần hơn cả,
cuộc hành tŕnh t́m Đất Hứa của người tị nạn Việt Nam từ ngày
30-04-1975, ngay trong thế kỷ 20, gần nhất của nhân loại, đă vẽ nên
trang sử đầy bi hùng và thương tâm, v́ đă có hàng triệu người Việt
Nam đă băng qua Thái B́nh Dương để chấp nhận bao hiểm nguy, bao rủi
ro để bao người bị chôn vùi vào ḷng đại dương, số c̣n lại bị phân tán đi
khắp nơi trên thế giới. Những chuyến vượt biên hải hành gian truân này
đă làm rung động lương tâm của nhân loại. Theo ước tính của Văn
pḥng Cao Uỷ Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc, để có được một triệu thuyền
nhân Việt Nam may mắn đến được bến bờ tự do, th́ 3/4 của con số đó,
tức 750,000 người không may mắn đă phải bỏ ḿnh vào ḷng biển cả. Trong
lịch sử loài người chưa có một chuyến viễn dương nào mà phải trả cái
giá quá đắt chỉ v́ hai chữ "Tự Do". Máu và nước mắt của người tị nạn
nhuộm đại dương với cuộc thủy táng vĩ đại này. Phải chăng chúng ta,
hỡi những người tị nạn Việt Nam, đă viết nên một thiên sử bi hùng
ca của nhân loại? Ngay cuối cái thế kỷ văn minh 20, mạng sống của
người Việt lại phải trao đổi quá liều lĩnh cho ư niệm của giá trị "Tự
Do", mà lư ra chúng ta phải được hưởng bởi thiên nhiên từ khi chào
đời. Tôi chạnh nhớ câu nói chí lư của nhà chính trị hùng biện
Patrick Henry của giai đoạn chiến tranh cách mạng Hoa Kỳ, ông đă nói
là: "Cho tôi tự do hoặc là cứ giết tôi đi" (Give me liberty or give
me death). Trong một buổi gây quỹ về Tượng Đài Thuyền Nhân, Chánh Án
Nguyễn Trọng Nho đă đưa ra cảm nghĩ về thuyền nhân tị nạn là: "Những
người vượt biển và hy sinh trên Biển Đông chúng ta phải xem họ như
là những vị anh hùng và họ mang đi mang theo thông điệp Tự Do.". C̣n
vị Linh mục người Ư, có tên Việt Nam là Đỗ Minh Trí, mà tên thật của
ông là Gildo Dominici, hoạt động trong các trại tị nạn Á châu đă
nhận xét là: "Cuộc sống người tị nạn thường được đánh dấu bởi thảm
trạng: thảm trạng của chết chóc trên biển cả, thảm trạng của nạn
cướp biển hăm hiếp và tàn sát, thảm trạng của gia đ́nh đổ vỡ, và thảm
trạng của bạo động.". Nhà thơ Thái Tú Hạp nhớ về chuyến hành tŕnh
của ông thật hăi hùng tại Biển Đông, ông nói trong xúc cảm: "Hơn 30
năm nh́n lại, cho dù Biển Đông đă trầm lắng giông băo hăi hùng, thảm
khốc, nhưng âm vang của những thuyền nhân tử nạn vẫn c̣n vọng lên
những giai điệu u trầm, oan nghiệt như những tiêng sóng vỗ vào ghềnh
đá đến ngh́n năm.".
Bao nhiêu kinh nghiệm của oan khiên, của hăi
hùng trên đường vượt biên, nhiều cựu thuyền nhân đă ghi lại kỷ niệm
máu xương và nước mắt thành những mẫu truyện ngắn để chia sẻ với thế
giới c̣n lại, nghệ sĩ Ngụy Vũ và Hành Tŕnh Biển Đông Foundation đă
bỏ công sức ra in thanh tuyển tập. Chúng ta cần tiếp tay với Hành
Tŕnh Biển Đông Foundation phổ biến tài liệu này, bằng càng nhiều
ngôn ngữ càng tốt, v́ làm như vậy chúng ta đă vinh danh những nạn
nhân của biển cả và rằng chúng ta sẽ không quên những đồng bào ruột
thịt của chúng ta đă tử nạn v́ lư tưởng tự do. Kinh nghiệm máu xương
vượt biên và kỷ niệm tị nạn v́ lư do chính trị sẽ giúp con cháu
chúng ta hănh diện về nguồn gốc v́ tự ái của dân tộc Việt Nam không
hề tha phương cầu thực, không thể chấp nhận cái nh́n nghiệt ngă của
thế giới v́ chúng ta mang bản sắc của phường giá áo túi cơm. Việt
Hải xin giới thiệu bài viết của nhà văn Richard H. Sindt, mà Dr. No
Trần chuyển dịch ra Việt ngữ dưới tiêu đề: "Hành Tŕnh Biển Đông: Tự
Do, Một Nhu Cầu Thiết Yếu, Đáng Để Ta Đi T́m".
Việt Hải Los Angeles,
Xin mời quư vị hăy đọc...
oOo
Ở
một xứ tự do như Hoa Kỳ, người ta nói đến hai tiếng “Tự Do” một cách
dễ
dàng, nhưng thường th́ ư nghĩa của nó không được nhiều người thông
hiểu tường tận. Từ thửa ấu thơ cho đến khi qua khỏi ngưỡng cửa trung
học, chúng ta đă học biết qua lịch sử của nền Tự Do của Mỹ Quốc và
nhiều quyền Tự Do của nhân dân Hoa Kỳ, nhưng chúng ta chỉ hiểu biết
những khái niệm này theo lư trí mà thôi. Khi chúng ta tiếp tục
trưởng thành và quan tâm nhiều hơn nữa đến những sự kiện xảy ra
chung quanh ta, chúng ta càng nhận thức rằng đa phần nhân dân trên
thế giới hưởng được rất ít quyền Tự Do của con người. Nhưng sự hiểu
biết của chúng ta vẫn luôn ngự tại trong đầu óc chúng ta.
Đôi lúc chúng ta suy nghĩ về một sự kiện hay
một t́nh huống đặc biệt trong bối cảnh những sự kiện đă hay đang xảy
ra, và chúng ta có chút ít nhận xét rằng tại sao những người khác
hưởng ít Tự Do hơn chúng ta. Chúng ta có thể có một quan tâm đặc
biệt tới một sự nghiệp hay một quốc gia nào đó, và sự nhận thức về
Tự Do của chúng ta được phát triển trong trí óc của chúng ta. Nhưng
cái nhận thức được mở rộng này đă phải ganh đua với những lo âu hàng
ngày của chúng ta, và chúng ta tự hỏi làm thế nào chúng ta có thể
giúp đỡ kẽ khác khi chúng ta phải đương đầu với những nhu cầu bức
thiết.
Nhưng cũng có lúc trong đời sống chúng ta,
một ánh lửa yếu ớt của lo âu được thổi bùng thành ngọn lửa rực sáng.
Thực ra quá tŕnh này bắt đầu phát triển chậm, nhưng thường hầu như
không có ǵ đảo ngược nó lại được. Thoạt tiên, trong nhận thức hạn
chế, chúng ta cảm thấy lo lắng ngọn lửa đó sẽ thiêu hủy chúng ta.
Nhưng dần dần trong nhận thức ngày càng phát triển của chúng ta,
chúng ta nhận thấy ḿnh không những đang đi t́m ngọn lửa để được
thiêu hủy, mà lại cảm thấy sức lực được tăng cường và ngay cả được
biến đổi. Chúng ta t́m ra sự sống mới trong một sự nghiệp to lớn hơn
cái bản ngă không kiên định của chúng ta.
Giờ đây th́ chúng ta thấy rằng sự hiểu biết
của chúng ta không c̣n dừng lại ở phần lư trí nữa, không c̣n là một
tiếng nói vu vơ trong trí óc chúng ta nữa. Sự hiểu biết đó đă xâm
nhập vào tim ta và thẫm sâu xuống cả phần sâu thẳm của thân thể ta.
Trước kia, chúng ta có thể đă thầm khóc khi được biết có những bất
công trong đời sống của kẻ khác. Bây giờ, chúng ta bị tác động đi
đến chỗ phải hành động, phải phản ứng lại, bằng một phương cách
thích hợp nào đó, cái ư thức bất công mà chúng ta cảm thấy tồn tại
trong chúng ta.
Một sự phản ứng đầu tiên hợp lư nhưng hơi
mơ hồ là ước muốn chống trả lại bất công. Chúng ta chắc ai cũng đă
thấy khẩu hiệu: “Nếu bạn muốn có ḥa b́nh, bạn phải tranh đấu cho
công bằng.” Phản ứng thứ hai hữu hiệu hơn là đóng góp thời gian và
tiền bạc vào những tổ chức đang tranh đấu cho một đời sống tốt đẹp
hơn cho mọi người. Phản ứng thứ ba có lẽ ít được bàn đến là vượt lên
trên khỏi sự cô lập cá nhân của chúng ta để thấy cả thế giới ở trong
ta và ta ở trong ḷng của toàn thế giới.
Chúng ta đă được Chúa Ky Tô và đức Phật và
các nhà lănh đạo khôn ngoan khuyến nhủ rằng tất cả chúng sanh đều là
anh chị em với nhau, rằng mọi người đều đồng chung một gia đ́nh.
Nhưng làm thế nào chúng ta có thể biến lư tưởng này thành hiện thực
trong đời sống của chúng ta? Làm thế nào chúng ta có thể phá vở
những giới hạn của cái bản ngă không kiên định của chúng ta và học
hỏi cách nào để ôm choàng người khác vào ṿng tay thành đại gia đ́nh
của chúng ta?
Chúng ta có thể thực hiện được lư tưởng trên
bằng cách t́m hiểu thật thấu đáo hai chữ “Tự Do.” Tự Do không chỉ
hạn chế trong hai chữ đơn giản mà thôi. Tự Do vượt ra khỏi khuôn khổ
của một khái niệm hoặc một ư kiến. Tự Do là một nhu cầu thiết yếu
của con người. Không có không khí, nước và thức ăn th́ thân thể ta
không được nuôi sống. Không có Tự Do, linh hồn chúng ta không c̣n
tồn tại nữa. Tự Do là một bộ phận tuyệt đối của đời sống con người.
Và nếu chúng ta không hiểu được ư nghĩa đích thực của Tựỉ Do, chúng
ta sẽ thất bại trong việc duy tŕ đời sống của chúng ta.
Những người Việtnam đă chứng tỏ ước muốn của
ḿnh đi t́m Tự Do. Vào cuối tháng Tư, 1975, với sự sụp đổ của
Saigon, hàng trăm ngàn người Việtnam ở mọi lứa tuổi trốn thoát địa
ngục trần gian do chánh phủ cộng sản tạo ra. Và trong cuộc di tản vĩ
đại chấm dứt vào giữa thập niên 90, nhiều trăm ngàn người Việt đă bỏ
ḿnh trên hành tŕnh t́m Tụ Do ở một quốc gia khác. Những người đă
chết đă trả được cái giá tối hậu cho Tự Do; họ cho thế giới thấy
rằng Tự Do đáng được để cho họ đi t́m.
BỐI CẢNH VƯỢT THOÁT
Một
phần rất lớn người Việt đào thoát bằng những chiếc thuyền con và vất
vả lắm mới đến được bờ nhiều nước lân cận Đông Nam Á, như Cam Bốt,
Hong Kong, Nam Dương, Mă Lai Á, Phi Luật Tân và Thái Lan. Theo thống
kê của Liên Hiệp Quốc, có ít nhứt 900,000 người trốn thoát bằng
thuyền đến được 10 nước trong vùng trong khoảng thời gian từ năm
1975 đến 1990. Ngoài ra, vô số thuyền nhân, có lẽ lên đến nửa triệu
người, đă bỏ ḿnh trên đường vượt thoát, v́ đói, v́ bị băo táp đánh
ch́m dưới ḷng biển, v́ mắc những bịnh tật, hay v́ do những hành
động của bọn hải tặc.
Những chuyện do những người vượt biển kể lại
đều nhằm nhiều mục tiêu giống nhau, như ghi lại những kinh nghiệm
của họ cho toàn thế giới được biết, truyền lại cuộc hành tŕnh của
ḿnh cho gia đ́nh để con cháu của họ hiểu được di sản đó và cái giá
họ đă trả để đánh đổi Tự Do, và bảo đảm rằng lịch sử của Việtnam
được viết một cách trọn vẹn.
Qui mô của khối người Việt lưu vong
(Diaspora) quá to lớn đến nỗi người ta không thể biết được một cách
đầy đủ mọi khía cạnh của đời sống lưu vong, và chiều sâu kinh nghiệm
của họ cũng quá dài làm những người ngoại cuộc chỉ có thể h́nh dung
mường tượng được mà thôi. Tuy vậy, những mẩu chuyện trên cần phải
được kể ra, để ghi chép những kinh nghiệm của người Việtnam và bắt
buộc thế giới biết được cái giá thực sự của Tự Do.
Những người ngoại cuộc cần hiểu rằng có nhiều
kinh nghiệm vượt thoát không giống nhau; rằng không một thuyền nhân
nào hoặc một thuyền chở đầy thuyền nhân nào đă chịu đựng hết mọi thứ
gian nguy; rằng không có những mẩu chuyện vượt thoát “điển h́nh.”
Phần lớn người ngoại cuộc đều có thể đă được nghe qua về “những
thuyền nhân,” nhưng một số ít (từ 5 đến 10 phần trăm) người khác đă
vượt thoát bằng đường bộ xuyên qua xứ Cam Bốt, và những “người vượt
thoát trên bộ” này cũng đă chịu đựng nhiều thứ gian khổ trên đường
đi.
Những người Việtnam có những kinh nghiệm ǵ
khi họ rời bỏ quê hương xứ sở đi t́m Tựỉ Do ở nơi khác? Tôi chỉ có
thể đưa ra một số cụm từ trong ư muốn sắp loại một lô kinh nghiệm
phức tạp đă tác động đến đời sống của trên một triệu người trong
khoảng thời gian 20 năm. Độc giă sẽ sớm hiểu rằng danh sách những
cụm từ này có thể không đầy đủ cho lắm và ngay cả có thể hơi xa sự
thật một chút.
Tuy nhiên, trong mỗi mẩu chuyện được kể ra
đều có nhiều nét đặc trưng chung:
- Sự hy sinh cần phải có, như bỏ lại đằng sau
gia đ́nh, bạn bè và nơi chôn nhau cắt rún của ḿnh;
- Khả năng tử vong to lớn, như trong khi di chuyển lén lút ra khỏi
lănh thổ quê hương, lênh đênh giũa ḷng đại dương (hay lúc băng rừng
trèo núi), và lây lất ở những trại tỵ nạn;
- Rất có thể bị hải tặc Thái Lan tấn công, thường thường bị tấn công
nhiều lần, trong đó phụ nữ, ngay cả các cô gái vị thành niên, sẽ bị
hăm hiếp, cũng nhiều lần;
- Một sự hỗn hợp bất công của những chiếc thuyền đi sông nhỏ bé,
mỏng manh và đầy ắp người và một đại dương bao la, nhiều bảo táp và
vô tâm;
- Và sự thiếu thốn trầm trọng đối với thể xác và tinh thần trong
những năm tháng ở trại tỵ nạn.
Một khía cạnh của những cuộc vượt thoát bằng
thuyền mà một người chỉ thích sống ở đất liền và không quen với sóng
gió của biển cả không thật sự biết trước rằng ở giữa ḷng đại dương
không có nơi nào để lẫn trốn cả. Trên đường bộ, người vượt thoát có
thể chạy trốn khỏi những hiểm nguy, và do đó có nhiều sự lựa chọn
tránh khỏi một cuộc chạm mặt với chức trách địa phương. Mặt khác,
biển cả không phải là chỗ để che giấu mà chỉ có trực diện với cái
chết bằng cách bị vùi sâu dưới đáy biển như là một sự chọn lựa đối
đầu với hiễm nguy. Trên đường vượt thoát trên bộ, người ta thường
t́m được thức ăn, nước uống và nơi trú ẩn, trong khi đó biển cả
không cung cấp nước uống mà chỉ có cá cho những ai có sẵn những câu
móc hoặc những mảnh lưới. Hải tặc thường lấy đi những thùng nước
uống và tuế nhuyển của thuyền nhân, và vô số thuyền nhân đă phải tử
vong trong đói khát ngay cả trong lúc trời êm biển lặng.
Nhiều mẩu chuyện vượt thoát nói trên kể lại
những cuộc chạy trốn xuyên qua đất Cam Bốt. Những chuyện kể này cũng
rất kích động và thương tâm. Những bộ nhân đă phải đương đầu với
lính Cam Bốt (và cả lính Việtnam), băng qua những khu rừng xa lạ, bị
bắt hồi hương và phải tạm trú ở một đất nước nghèo nàn như quê hương
của họ.
NHỮNG TÁC ĐỘNG TÂM
LƯ CUỐI CÙNG
Là một biên tập viện cộng sự trong cuốn sách
này, tôi đă đọc đi đọc lại nhiều lần những mẩu chuyện trên đây, và
nhiều lần tôi thầm nghĩ nếu đặt vào trường hợp của hàng trăm ngàn
người Việt Nam vượt biên liệu tôi có thể sống sót nổi với những thử
thách mà họ đă trải qua. Đọc xong một chuyện, tôi lại mong muốn t́m
được một đáp số cho vấn đề; tôi hy vọng người kể chuyện đă đến bờ Tự
Do c̣n nguyên vẹn; tôi muốn làm một cái ǵ để góp phần vào việc diệt
trừ những hải tặc và cứu thoát những thuyền nhân; và tôi muốn mọi
thuyền nhân thành công trong cuộc hành tŕnh của họ! Tôi cảm thấy
vừa buồn thương vừa phấn khởi bởi những mẩu chuyện trên.
Những mẫu chuyển trong cuốn sách này cần phải
được nhiều người đọc. Nói như vậy có nghĩa là không những những mẩu
chuyện có tính kích động cao và sẽ thu hút người đọc hết toàn bộ
quyển sách, mà tôi muốn nói rằng những mẩu chuyện này cần một lượng
độc giả to lớn bởi v́ chúng biểu lộ, một cách tài t́nh lẫn kinh
hoàng, một trong những khát vọng của nhân loại, đó là Tự Do của con
người!
Tôi có một cảnh báo trước! Những mẩu chuyện
vượt thoát trong quyển sách này sẽ không ngự trị măi trong đầu óc
bạn mà sẽ thẫm thấu vào tim bạn và ch́m sâu vào tận đáy của linh hồn
bạn. Bạn sẽ tự nhận ra rằng bạn đang suy nghĩ xem bạn có thể làm
được việc mà những tác giả của những mẩu chuyện đă làm: trốn thoát
một địa ngục trần gian đi t́m Tự-Do.
Richard H. Sindt