TRANG NHÀ VIỆT HẢI . LA                                                                        Sunday October 15, 2006
 
 Trở về trang chính

 Viễn Xứ magazine
 
Văn Đàn ĐồngTâm
 
 Cali Weekly Online
 
  
T
ake2tango.com

      Saigon Time
 

 ASIA

Asia-51:
Nhạc Vàng 30 Năm,
 T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến


Tạ Ơn Anh "Người Thương Binh VNCH
 
Nhật Trường-Trần Thiện Thanh

Vinh Danh Nhật Trường Trần Thiện Thanh
 

 

HÀNH TR̀NH BIỂN ĐÔNG

Giao Chỉ – San Jose 2006
 

 Mỗi một ngày trôi qua, thời gian đưa chúng ta lại gần ngày định mệnh 30 tháng 4 của năm 1975. Kể từ đầu tháng 3, loạt bài Dân Sinh của chúng tôi sẽ lần lượt giở lại trang sử cũ của 30 năm qua. Lần này xin giới thiệu tuyển tập Hành Tŕnh Biển Đông của Ngụy Vũ.

      Xin hăy bắt đầu từ một câu hỏi. Tại sao người Việt lại có mặt khắp thế giới với ba triệu người và trong đó gần một nửa tại Hoa Kỳ?

      Câu trả lời là: Bởi v́ 30 tháng 4. Vâảy th́ đó là sự bất hạnh hay là một kết quả đầy hạnh ngộ mà nguyên do từ thảm họa h́nh thành.

      Chúng ta hiện sống c̣n và hạnh phúc nên thường có những đáp số khác. Những người đă chết ở biển Đông đă đem theo những ẩn số đau thương không giống những người tồn tại.

      Câu chuyện 30 năm qua, riêng tại Hoa Kỳ, chỉ tính bằng con số chúng ta thấy rơ cái thuyết nhân quả nhăn tiền.

      Trong trận hồng thủy 30 tháng 4, Hoa Kỳ dự trù chỉ bốc 30,000 người thân Mỹ trong danh sách của tổng thống Ford. Kết quả trời làm danh sách khác đưa qua Mỹ 138,000 tỵ nạn đợt đầu tiên. 

      Câu chuyện tưởng đến đó là chấm dứt, nhưng không phải như vậy. “Giặc từ miền Bắc vô Nam,” như bài hát chính huấn đă tiên tri, đă làm cho dân Việt Nam phải ra đi. 

      Suốt 20 năm Hành Tŕnh Biển Đông dậy sóng. Cả Sài G̣n đều thuộc ḷng câu thành ngữ. “Con ra đi t́m đường nuôi má, nếu không thoát mà đi tù th́ má nuôi con. Ra đến biển khơi mà việc không thành th́ lấy xác thân con nuôi cá.” Từ 1975 đến 1995 đă biết bao nhiêu chuyến ra đi để rồi chữ Boat People bắt đầu được đưa vào bách khoa tự điển.

      Thế giới phải nhận hàng trăm ngàn dân tỵ nạn từ Đông Nam Á. Riêng Hoa Kỳ nhận trên 400 ngàn.

      Vậy th́ ngày 30 tháng 4 là nguyên nhân và Hoa Kỳ bốc 138,000 người là hậu quả. Sau đó sự khắc nghiệt của cộng sản miền Bắc là nguyên nhân và sự ra đi t́m tự do của miền Nam là quả.

      Tiếp theo Hoa Kỳ và thế giới v́ nhận quá nhiều thuyền nhân với nhiều đau thương chất ngất th́ lại trở thành cái nhân và hậu quả là con đường mới phải mở ra để thay thế với 700 ngàn người vào Mỹ qua thể thức ra đi có trật tự. Đó là thời gian định cư suốt từ 1990 cho đến năm 2006

      Nếu ta có dịp hỏi chuyện từng gia đ́nh tỵ nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ, mỗi nhà là một thiên sử kư với biết bao nhiêu khó khăn vất vả đoạn trường. Không nhà nào là không tang tóc, chia cắt rồi đoàn tụ.

      Với biết bao đau thương trong thời gian dài như thế, các nhà văn hóa Việt Nam đều thắc mắc là tại sao chúng ta không có được một tác phẩm vĩ đại để lănh giải Nobel văn chương. Câu hỏi vẫn chưa được trả lời.

      Tuy nhiên, phần chúng tôi đă có cơ hội đọc rất nhiều và đặc biệt chú ư đến các loạt tác phẩm có thể coi là tài liệu cho một tác phẩm văn chương Nobel về Việt Nam.

      Loạt bài viết về Hành Tŕnh Biển Đông do một thanh niên rất trẻ có tên là Ngụy Vũ chủ trương. Hiện nay tuyển tập đă phát hành hai bộ với hàng trăm câu chuyện mà chúng tôi muốn giới thiệu với quư vị.

* * *

      Như chúng tôi đă tŕnh bày, trong tất cả các nỗi đau khổ mà người dân miền Nam chịu đựng suốt 30 năm qua được giăi bày qua tác phẩm th́ hoàn cảnh của dân vượt biên, vượt biển là cam go đau khổ hơn hết.

      Tôi đă có dịp đọc hết hai tuyển tập do Ngụy Vũ gửi tặng Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân. Nhân đây xin giới thiệu với quư vị anh Ngụy Vũ với cái tên khá lạ lùng lại là tên thật. Không phải là bút hiệu. Trong số trăm họ Việt Nam, rất ít người mang họ Ngụy. Ngày xưa tôi có nghe tiếng một nhân vật tên là Ngụy Như Kontum, nhưng chẳng biết ông Ngụy này liên hệ ǵ với thị trấn Kontum. Bây giờ hỏi anh Vũ th́ Ngụy Vũ cũng không rơ ông Kontum có phải là tiền bối hay không.

      Trở lại với đề tài th́ Ngụy Vũ đă phát động phong trào viết về chuyện kể Hành Tŕnh Biển Đông và được sự đáp ứng rất nồng nhiệt từ bốn phương trời. Các thuyền nhân ngày nay lưu lạc khắp nơi vẫn c̣n nhớ măi câu chuyện cũ nên đă đóng góp rất nhiệt thành.

      Tuy nhiên có nhiều chuyện bi thảm và ghê gớm đến nỗi tôi phải lướt qua mà không dám ngừng lại trên các ḍng chữ tưởng chừng chan ḥa máu và nước mắt.

      Qua hàng trăm câu chuyện kể, chúng ta thấy biết bao bà mẹ Việt Nam xuất sắc như trường hợp một bà đă kể lại là làm thế nào đă lần lượt gửi con đi Pháp bằng hồ sơ gian lận. Rồi tổ chức vượt biên cho chồng cho con và cho chính ḿnh rất nhiều lần. Biết bao nhiêu là lần bể mánh, bao nhiêu là tù tội, trải qua 10 năm phấn đấu mới đưa được cả nhà đến bến tự do.

      Bây giờ, ở Quận Cam nếu đi chợ Á chau, quư vị có thể gặp một thiếu phụ nhỏ bé, mắt to, hiền lành ngồi làm nhân công phụ cho một siêu thị, nhặt rau, vô bao.

      Quư vị sẽ không ngờ được có thể đây là người đàn bà đă hy sinh hàng trăm cây vàng, bán nhà, bán đất để chỉ huy mua tàu, gắn máy, tổ chức đường giây vượt biên không phải một lần mà hàng chục lần để rồi viết lại câu chuyện đă đưa cả nhà ra biển Đông như thế nào.

      Một câu chuyện khác do một phụ nữ kể lại về việc cha mẹ đă thu xếp cho cô ra đi một ḿnh theo người quen biết. Gia đ́nh đă hy sinh góp vàng chỉ đủ cho một ḿnh cô. Cha mẹ hy sinh đứa con gái mở đường vào chỗ chết để t́m lối sống cho cả nhà.

      Trải qua bao nhiêu là gian truân ở biển Đông, sau cùng cô gái đến San Francisco, hoàn toàn cô đơn, đi t́m về nhà một người bà con đứng tên bảo trợ. Ở trang cuối cùng của câu chuyện kể, tác giả mới viết rằng, quư vị độc giả có biết lúc đó tôi bao nhiêu tuổi. Lúc đó là năm 1980 và cô bé đến bến tự do mới có 12 tuổi.

      Một câu chuyện khác tác giả là một thanh niên có vợ 4 con, cựu quân nhân cấp Úy, sau hai năm học tập phải đưa gia đ́nh về kinh tế mới. Khi có mối vượt biên đă dấu vợ con để ra đi v́ sợ vợ khóc sẽ bị lộ.

      Anh kể lại là buổi sáng vợ và hai con gái ra đồng làm ruộng, anh nói dối con gái ở nhà là dẫn cháu út trai 4 tuổi đi mua bánh. Thế là bố dẫn con trai 4 tuổi vượt biên, tưởng chừng đem theo niềm hy vọng cho tương lai cả nhà. Đứa bé 4 tuổi ra biển quá sợ nên níu lấy bố. Anh phải phụ trách lái tàu, bèn bọc thằng nhỏ trong bao plastic nằm dưới chân để bố đứng lái.

      Cứ như thế bố con chịu trận suốt ngày đêm qua nhiều ngày. Khi bị cướp, bị dồn tàu, bố cơng con buộc chặt ngang lưng. Trải qua những hoàn cảnh không thể tưởng tượng được rồi sau cùng là hạnh phúc. Bởi v́ nếu không phải như vậy th́ làm sao mà c̣n sống mà viết lại được chuyện biển Đông. Đa số người chết không nói được đă đành, các gia đ́nh gặp cảnh quá đau thương thường cũng không muốn viết lại các trang sử kư gợi lại vết thương quá sức chịu đựng.

      Ngoài ra cũng có hai câu chuyện đáng ghi lại là một chiếc thuyền vượt biên bị hải tặc tấn công, đàn bà con gái đă bị lùa sang một bên, đàn ông con trai đang bị hải tặc xé quần áo để khám lấy vàng. Chợt có một thành niên cởi áo có h́nh xâm đầu cọp, chữ Thái và h́nh bùa chú đầy người. Đám hải tặc xúm lại coi, bàn tán và sau cùng tha cho cả tàu. Anh thanh niên này cho biết thời trước có bạn bè Thái Lan xâm ḿnh nói là để gặp hải tặc sẽ b́nh yên, không ngờ giúp cho cả tàu thoát nạn.

      Một chuyện khác là vào thời điểm năm 85, cơ quan IRCC có bảo trợ một thiếu nữ vào làm thư kư. Cô này thuộc về một tàu vượt biên 60 người đă chống cự hải tặc nên bị tàu Thái gọi nhau đến vây lại, đâm cho ch́m chết hết cả tàu rồi hải tặc bỏ đi. Một cô gái duy nhất c̣n sống nhờ ôm ván và các xác chết khác. Sóng đánh nhiều xác vào bờ cùng với một cô gái Việt duy nhất c̣n sống. Xóm chài Thái Lan rước cô gái lên chùa, coi như con Phật được cứu sống. Báo chí có đăng tin và cô được ưu tiên vào Mỹ. Cô gái này đă lập gia đ́nh, có con cái và có một cơ sở kinh doanh tại Bắc California.

      Chuyện của cô và nhiều nhân chứng khác sẽ được lần lượt kể lại nhân dịp 30 năm ngày 30 tháng 4-1975.

      Sau hết, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai tuyển tập Chuyện Kể “ Hành Tŕnh Biển Đông” do Ngụy Vũ xuất bản. Đây là tác phẩm cần được đọc và được lưu trữ trong tủ sách gia đ́nh người Việt hải ngoại.. Và khi bản dịch Anh Ngữ hoàn tất để gửi vào hệ thống đại học và thư viện Hoa Kỳ .Th́ không ai khác, chính anh.Ngụy Vũ, một con người trầm lặng nói ít làm nhiều ...Nhiều nhất là làm cho thế hệ Việt Nam mai sau cũng như thế giới thấu hiểu được những kinh hoàng về “Đại bi khúc thuyền nhân Việt Nam..”

Giao Chỉ – San Jose 2006

 

oOo

Cảm Nghĩ về Buổi Ca Nhạc Ư Nghĩa

 Trang Điền
 

Đêm tối ngày 12 Tháng Mười, 2006, tôi tham dự buổi ca nhạc gây quỹ tại vũ trường Majestic, do nghệ sĩ Ngụy Vũ tổ chức cùng các bạn hữu, buổi hát có tên là “Xin Đời Một Nụ Cười”, khung cảnh bên trong Majestic đầy ắp người. Khai mạc chương tŕnh, hai MC Nam Lộc và Mộng Lan đă thay mặt “Hành Tŕnh Tự Do Foundation” và nghệ sĩ Ngụy Vũ, ngỏ lời cám ơn quan khách tham dự và các vị Mạnh Thường Quân, cùng anh chị em ca nhạc sĩ tham dự và yểm trợ. Nhạc sĩ Nam Lộc đă phát biểu:

 

“... Kính thưa quư vị, trong bất cứ một buổi sinh hoạt gây quỹ nào cũng đều phải có sự tham dự của 3 thành phần: Thành phần thứ nhất là những người dấn thân, t́nh nguyện và âm thầm làm việc cho một mục tiêu cao đẹp và ư nghĩa. Thành phần thứ hai là những người có tầm ảnh hưởng và tiếng nói mạnh mẽ để kêu gọi sự tiếp tay và yểm trợ, đó chính là các anh chị em nghệ sĩ, tuy nhiên thành phần quan trọng nhất vẫn phải là những người tham dự, quư vị khán thính giả, và các nhà bảo trợ. V́ thế nh́n thấy quang cảnh của một hội trường thật đông đảo trong buổi tối hôm nay, một đêm nhạc diễn ra vào giữa tuần, th́ chắc chắn đéu đó đă nói lên một phần nào sự đồng t́nh của mọi người đối với ban tổ chức cũng như cá nhân anh Ngụy Vũ, mà đặc biệt nhất là ư nghĩa cùng sự cần thiết về mục đích của buổi gây quỹ đêm nay nói chung cùng niềm tin dành cho nghệ sĩ Ngụy Vũ nói riêng....”.

 

Trong phần phân tích về tầm quan trọng đối với chương tŕnh dịch thuật các tài liệu lịch sử của cuộc ra đi t́m tự do vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhạc sĩ Nam Lộc đă nhắc đến cuộc hội ngộ giữa anh, nghệ sĩ Ngụy Vũ và cô Nina Nguyễn, một khuôn mặt trẻ trong cộng đồng VN, hiện đang giữ một chức vụ trọng yếu tại ṭa Bạch Ốc. Khi nhắc đến lư do và sự cần thiết của việc cung cấp các tài liệu lịch sử tỵ nạn Việt Nam bằng Anh ngữ cho các trường đại học cũng như thư viện Hoa Kỳ. Cô nói, mỗi khi vài vào các thư viện để t́m kiếm và thu thập tài liệu về lịch sử tỵ nạn, Nina đă không khỏi giật ḿnh v́ sự tràn ngập của những sách vở, báo chí do Cộng Sản Việt Nam cung cấp và quảng bá. Nina đă vô cùng bàng hoàng khi đọc qua một trong những quyển sách bằng Anh ngữ cũng do Hà Nội gởi sang, mà người viết đă mô tả rằng:

“... những cựu cải tạo viên thuộc các thành phần sĩ quan và công chức cao cấp của chế độ miền Nam trước đây, đều cho rằng nhờ ân huệ của nhà nước, chính sách khoan hồng, cải tạo đă thay đổi hoàn toàn cuộc đời và tư tưởng của họ, và đă đem đến cho họ một cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày hôm nay!!!”

 

Lời chia sẻ của Nina Nguyễn đă hoàn toàn trùng hợp với những ư tưởng mà Nam Lộc đă diễn tả trong một bài viết nói về ca khúc ‘Xin Đời Một Nụ Cười’do anh sáng tác, mà Ngụy Vũ đă dùng để làm tựa đề cho buổi nhạc hội tối nay. Chúng tôi xin phép được trích lại một vài đoạn ngắn sau đây:

“....cả lớp học gần 30 sinh viên (tại đại học UCLA), mà chỉ có một người biết dân VN đến Hoa Kỳ v́ lư do tỵ nạn. Vậy th́ làm sao mà họ có thể hiểu nổi những đắng cay, chua xót của một khối người đă phải chấp nhận bao hiểm nguy, trăm ngàn tủi nhục, bỏ lại sau lưng gia đ́nh và quê hương để t́m hai chữ Tự Do. Hai chữ Tự Do đánh vần thật giản dị, và lúc nào cũng lai láng trên các miền đất hứa. Nhưng nó là những ǵ thiêng liêng, cao quư nhất mà hàng triệu người Việt đang phải trả giá bằng nước mắt, bằng máu xương, và bằng thân xác họ. Dù đó là người vượt thoát vào thời điểm khi Sài G̣n vừa thất thủ, hay lang thang qua rừng già, núi thẳm, hoặc lênh đênh trên biển khơi. Mười năm trước đây (1975), thời gian lúc đó (1985) hay mười năm, hai mươi năm sau nữa, nếu Cộng Sản vẫn c̣n ngự trị trên quê hương đất nước, th́ người Việt cũng sẽ tiếp tục bỏ nước ra đi!....”.

 

Điều đáng buồn là giới trẻ Mỹ tại một đại học lớn tại Cali, miền Tây Hoa Kỳ, cũng như tại đại học lớn bên miền Đông Mỹ quốc, biến cố "người Việt tị nạn Cộng Sản" không được biết nhiều trong quần chúng Mỹ th́ dễ gây ra ngộ nhận chúng ta chỉ là phường giá áo túi cơm bỏ xứ ra đi v́ lư do kinh tế:

 

“....trong một lớp học tại trường Georgetown University ở Hoa Thịnh Đốn với khoảng hơn 30 sinh viên, đặc biệt là có một em người VN. Cô cho biết đă theo cha mẹ vượt biển tỵ nạn và sang HK định cư vào khoảng giữa thập niên 1980, lúc cô vừa được 1 tuổi. Tôi hỏi em là có bao giờ chia sẻ với các bạn câu chuyện nhọc nhằn của thuyền nhân VN cho các bạn đồng lớp được biết hay không? Em trả lời: ‘chính em c̣n không biết rơ cuộc hành tŕnh đó gian khổ ra sao’! Thỉnh thoảng xem TV hoặc báo chí cô có ṭ ṃ hỏi cha mẹ về chuyện này, nhưng mẹ đều trả lời là ‘chuyện dài lắm, kể không hết, thôi lo học đi, để khi khác’. Nhưng theo em th́ dường như có điều ǵ mà mẹ không muốn nói, ‘hoặc cũng có thể v́ cháu không nói rành tiếng Việt, mà mẹ th́ không nói giỏi tiếng Anh nên câu chuyện chẳng bao giờ được bắt đầu’! .Tôi chợt nhớ lại câu nói của chị Kiều Chinh gần 20 năm về trước, và nói thầm trong bụng là ‘tức quá, phải chi ḿnh có một quyển sách Anh ngữ viết về Vietnamese Boat People liệng vào tay cô bé, để nó biết thế nào là thân phận của một gia đ́nh thuyền nhân, cùng những ǵ mà họ đă phải trải qua trên đường t́m tự do’! Nhưng chắc chắn không thể là một quyển, v́ có thể hàng chục ngàn em như cô bé ‘thuyền nhân’ nói trên đă quên hay không biết đến ư nghĩa của những chuyến đi ‘t́m chết, để sống’ mà người tỵ nạn Việt Nam đă phải trải qua. 
Tháng Tư 2005, kỷ niệm 30 năm tỵ nạn. Trung tâm Thúy Nga thu h́nh DVD ‘30 Năm Viẽn Xứ ’ và phổ biến nhạc phẩm ‘Xin Đời Một Nụ Cười’ của tôi... Chỉ chưa đầy một tháng, sau ngày phát hành, th́ tờ báo Công An Thành Phố đă viết như sau (trích nguyên văn) ‘Quê hương không bao giờ chối bỏ bất cứ ai, kể cả những người vượt biên đă tự động rời bỏ quê mẹ, nhưng đă được lư giải rất lệch lạc, rằng không thể sống ở đất mẹ mà buộc phải bỏ đi như bài ‘Xin Đời Một Nụ Cười’ ....  bài hát này đă cố t́nh tô vẽ và biện minh cho sự ra đi, trốn chạy khỏi đất nước của những kẻ phản quốc là đúng đắn, ca ngợi những vùng đất nơi xứ người là mảnh đất của Tự Do ...’, rồi 30 năm sau báo chí nhà nước vẫn gọi những người ra đi là ‘kẻ phản quốc’...”

 

Tóm lại, mục tiêu của Hành Tŕnh Biển Đông Foundation đă nói lên ư hướng cao cả của nguồn gốc chúng ta và bảo tồn tài liệu về kinh nghiệm đau thương trong những chuyến vượt biên trốn thoát hiểm họa Cộng Sản mà thế giới lên án, MC Nam Lộc nói tiếp:

“....Vấn đề đặt ra ở đây là liệu các thế hệ sau có hiểu được lư do và ư nghĩa của cuộc t́m kiếm tự do vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc VN hay không? Liệu những người dân hoặc thế hệ trẻ ở trong nước, nếu không được giải thích, họ có bị ảnh hưởng bởi những bài báo đang cố t́nh bóp mép và xuyên tạc lịch sử hay không? Làm sao để cho người bản xứ, đặc biệt là các sinh viên đại học ở Hoa Kỳ hoặc các nước tự do khác có được những tài liệu chính xác để đối chiếu với lịch sử cận đại về cuộc hành tŕnh t́m tự do đầy bi hùng của một dân tộc không chấp nhận chế độ Cộng Sản? Chắc chắn không có ǵ trung thực hơn bằng chính lời tự thuật của những người trong cuộc, bằng các nhân chứng sống và bằng tiếng nói chân thành từ trái tim của một con người Việt Nam đích thực với tấm ḷng nhân bản. Những câu chuyện "Viết Về Nước Mỹ", "Chuyện Tù Cải Tạo", "Hành Tŕnh Biển Đông", "Người Thương Binh VNCH" v..v.., sẽ là những câu trả lời chính xác nhất. Và đó cũng là lư do tôi hỗ trợ công việc làm hiện nay của anh Ngụy Vũ hay bất cứ ai đang có những nỗ lực sưu tầm, dịch thuật, phổ biến và ǵn giữ những tác phẩm văn học và nghệ thuật cho đời ta và cho đời sau.....”

 

Có thể nói là Đêm ca nhạc gây quỹ cho việc xúc tiến in ra một ấn bản bằng Anh ngữ của tác phẩm "Hành Tŕnh Biển Đông" có ư nghĩa chính đáng của nó, một việc làm cần tiếp tay và khuyến khích.

Trang Điền Morita