Kỷ Niệm về
Thầy Sỹ
Việt
Hải

Tôi
chần chừ, tôi ngần ngại viết về Thầy. Tôi thu bài trong nhóm văn Đồng Tâm
của Thầy. Bài vở về khá nhiều cho sách kỷ niệm về một người đă cống hiến
cả cuộc đời cho nền văn học nước nhà, có nhiều bài tác giả viết rất hay,
tạo cho tôi nhiều cảm xúc. Tôi miên man đọc văn họ cả tháng nay, tôi tự
nghĩ làm sao giữ cho ḿnh độc lập, tự chủ về cách viết và ư tưởng, không
"chôm chỉa" hay "cọp dê" th́ không phạm nguyên tắc viết văn khi nhận bài
người khác. Thôi th́ hăy bắt đầu đi vậy.
Hôm ghé nhà Thầy tại vùng khu rừng thông Spring, nơi có nhiều cây xanh bát
ngát cho tôi một ấn tượng khó quên như vùng New England,
GS Doăn Quốc Sỹ
với
rừng thông Maine, Vermont hay Connecticut. Tôi tṛ chuyện với Thầy trong
căn nhà mới xây xong, c̣n thoảng mùi sơn mới, Thầy dẫn tôi đi xem pḥng
đọc sách, nơi có nhiều sách, vật lưu niệm và tranhh ảnh. Có bức tranh bán
thân của Thầy do họa sĩ Phạm Thông tạo nét vẽ vô cùng sắc sảo, h́nh Thầy
đang ôm sách. Ư của họa sĩ Phạm Thông đề nghị Thầy nên ôm sách, v́ Doăn
Quốc Sỹ suốt đời vốn yêu sách, thích sách và trân quư sách vở, v́ ông là
người viết sách và đọc sách. Ư kiến của ông họa sĩ có lư lắm chứ ! Họa sĩ
Phạm Thông mượn Thầy làm người mẫu cả 2 buổi Chủ Nhật, họa sĩ nắn nót từng
chi tiết mẫu để rồi sau đó về nhà ông vẽ tiếp phần phụ, trong khi Thầy lại
vất vả cứng ngắc như pho tượng bất động và đang sống v́ nghệ thuật của
từng nét vẽ. Tôi nghe chuyện cũ mà trầm trồ khen ông Phạm Thông như
Leonard De Vinci tạo tuyệt tác “La Joconde” ngày xưa.
Gần pḥng đọc sách trong nhà có cây đàn dương cầm, khi xưa ở Hà Nội Thầy
có học âm nhạc. Lăng đăng trong sách thầy viết, người ta t́m thấy tên của
những nhạc sĩ cổ điển mà Thầy thích từ Mozart, Beethoven, Chopin đến
Schubert, Schuman hay Bellini,... Tôi được Thầy kư tặng 6 quyển sách,
trong đó cuốn "Gánh Xiếc, Doăn Quốc Sỹ Toàn Tập" có bài truyện ngắn Ǵn
Vàng Giữ Ngọc mà nơi trang 218, Thầy viết:
"Có những buổi trưa tôi ăn cơm với Huân, có những buổi chiều tôi bị Huân
giữ lại để ăn cơm xong là đi xi-nê toàn gia, nhất là khi có phim về âm
nhạc như Passion Immortelle tả đời Schuman, Chanson du Souvenir tả đời
Chopin, Casta Diva, phim cũ chiếu lại, tả đời Bellini...". Những mẫu
chuyện này cho thấy Thầy thích âm nhạc lắm. Hôm ra mắt sách những lúc
trước khi quan khách đến bà con anh em phụ trách phần chuẩn bị hay sau khi
quan khách về hết th́ bà con anh em Đồng Tâm lo "thu dọn chiến trường" th́
tôi và Thầy được "miễn quân dịch" v́ Thầy do tuổi tác và tôi v́ sức khỏe,
đây là lúc mà thầy tṛ hàn huyên tâm sự. Tôi hỏi Thầy những loại nhạc cụ
nào mà thầy học. Thầy cho biết khi xưa Thầy học vĩ cầm, nên violon là môn
chính Thầy nắm vững; C̣n dương cầm, flute (sáo) và cello Thầy cũng thích,
nhưng không biết nhiều. Tôi nhớ lại hồi ban năy trong phần âm nhạc giáo sư
Thu Thủy đàn organ và guitar để đệm rành rẽ lắm cho ca sĩ hát tân nhạc,
trong khi các cháu học viên bé tŕnh bày âm nhạc qua đàn tranh. Tôi hỏi
Thầy về những bài nhạc nào Thầy thích trong khi tṛ chuyện, Thầy ca khẽ
vài đoạn của 3 bài nhạc như bài Con Thuyền Không Bến của nhạc sĩ Đặng Thế
Phong:
"Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi ḍng
Như nhớ thương ai chùng tơ ḷng ...
Lướt theo chiều gió
Một con thuyền, theo trăng trong
Trôi trên sông thương,
nước chảy đôi ḍng
Biết đâu bờ bến "
Thầy cho biết nhạc sĩ Đặng Thế Phong là người tài t́nh, nhưng chẳng may
ông quá văng quá sớm. Bài nhạc khác là Đêm Đông, bài nhạc làm nhạc sĩ
Nguyễn Văn Thương nổi bật tên tuổi tại Hà Nội vào năm 1939. Thầy lại ca
khẽ tiếp:
"Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống
Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông
Đôi cánh chim bâng khuâng ră rời
Cùng mây xám về ngang lưng trời
Thời gian như ngừng trong tê tái
Cây trút lá cuốn theo chiều mây
Mưa giăng mắc nhớ nhung, tiêu điều
Sương thướt tha bay, ôi! đ́u hiu..."
Thầy không là người ca chuyên nghiệp, nhưng trong giọng ca khe khẽ đó cho
thấy Thầy thích thú và say mê âm nhạc. Thầy bảo rằng những đêm tối giá
lạnh tại đây lắng nghe Đêm Đông hay Con Thuyền Không Bến làm Thầy nhớ lại
Hà Nội thuở xa xưa. Tôi hiểu tâm trạng của Thầy, dù tôi chưa hề biết Hà
Nội, nhưng khi nghe những bài như Mưa Sài G̣n Mưa Hà Nội, Ghé Bến Sài G̣n
hay Áo Lụa Hà Đông có Sài G̣n trong đó, có nhiều kỷ niệm cũ của tôi, tôi
lại nhớ cái thuở khi mà tôi nuôi đầy ắp cái nhung nhớ Sài G̣n trong tâm
tưởng.
Bài tôi được biết Thầy rất thích, được viết bởi người nhạc sĩ tài hoa có
dính líu phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là Văn Cao với t́nh khúc bất tử
Buồn Tàn Thu:
"Ai lướt đi ngoài sương gió,
Không dừng chân đến em bẽ bàng,
Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,
Từ từ xa đường vắng.
Đêm mùa thu chết,
Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
Em ngồi đan áo ḷng buồn vương vấn,
Em thương nhớ chàng..."
Năm 1939, Văn Cao sáng tác nhạc phẩm trữ t́nh này, nó chan chứa t́nh yêu
trai gái hay t́nh yêu vợ chồng và t́nh yêu đất nước khi người chinh phu ra
đi cứu quốc, người chinh phụ ṃn mỏi đợi chờ nơi quê xưa, nên nó cũng được
hiểu như Chinh Phụ Khúc để nhớ người ra đi. Những ai có trải qua giai đoạn
xa xưa đó sẽ hiểu tiếng ḷng của người nhạc sĩ khi ông khảy tiếng đàn ra
cung khúc u hoài này. Văn học Việt Nam ghi nhận bao nhiêu áng thơ, bao
nhiêu khúc nhạc từ Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Cầm hay Phùng Quán,... hay
Văn Cao hoặc sách văn như của Nhất Linh với Đoạn Tuyệt hay Khu Rừng Lau:
Ba Sinh Hương Lửa của Doăn Quốc Sỹ. Chuyện kể về chàng thanh niên trẻ tên
Tân, một sinh viên Kiến Trúc bỏ học tham gia Mặt Trận Việt Minh cứu quốc
(trang 67), lư tưởng của chàng là những gương cứu quốc của những Nguyễn
Thái Học, Kư Con, Phó Đức Chính,... giải phóng quê hương từ tay thực dân
Pháp. Thầy Sỹ kể tôi nghe Thầy gia nhập vào Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc, hoạt
động 10 năm tại vùng Việt Bắc. Ông cùng đồng bạn thực hiện những công tác
tấn công cướp lương thực từ đoàn công voa của Pháp, hay cướp các kho lúa
gạo của giặc Tây rồi phân phát cho dân nghèo,... Những lư tưởng mà thanh
niên Việt Nam tranh đấu v́ dân tộc Việt Nam, những thanh niên v́ bầu nhiệt
huyết của tuổi trẻ, tiếng ḷng ái quốc khiến họ hy sinh việc học quên
tương lai của ḿnh, họ không màng danh lợi cho ư đồ chính trị đen tối như
người Cộng Sản lợi dụng ḷng dân, nuôi bao thủ đoạn tham lam cướp quyền
hành thống trị đất nước.
Hôm anh Tạ Xuân Thạc chở Thầy và tôi ghé ăn cơm tấm tại hiệu Kiều Giang
trong khu thương xá Hong Kong 4, tôi nói là tôi thích cái tên mà nhà văn
Hoàng Hải Thủy dịch chữ "Jane Eyre", một danh tác của nhà văn Charlotte
Bronte ra là "Kiều Giang". Cả ba cùng cười đồng ư như vậy. Tôi cám ơn Thầy
Sỹ v́ ông vừa kư tặng cho tôi 6 quyển sách trong bộ sách gồm nhiều cuốn và
với tôi sách là điều rất quư báu. Tôi bảo là dù chưa hân hạnh được học
Thầy trước đây, và bây giờ tôi sẽ đọc sách này th́ cũng là h́nh thức học
từ Thầy rồi. Nói về sách của Thầy viết trước năm 75, Thầy kể tôi nghe về
một mẫu chuyện cảm động đến thương tâm mà Thầy khó quên là vào năm 1996,
Thầy được mời sang nói chuyện với Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita, Kansas.
Khi diễn thuyết xong đến phần giải lao, một người đàn ông với nét mặt u
buồn đến gần làm quen và cho Thầy biết là: "Quyển sách Ḍng Sông Định Mệnh
đă bị chôn vùi rồi !". Thầy ngạc nhiên và không hiểu câu nói của người đàn
ông kia. Thế rồi người đàn ông cho biết ông phục vụ trong binh chủng Hải
Quân sang Mỹ năm 75, bà vợ ông khi xưa đi học bà rất thích quyển "Ḍng
Sông Định Mệnh". Ngày 75 bà có mang theo ấn bản cũ in tại Sài G̣n. Ngày bà
bị bệnh nặng trước khi mất, bà đă trăn trối dặn ông hăy chôn quyển sách
này với bà. Thầy cho tôi biết Thầy rất cảm động khi hiểu được câu chuyện
này.
Sài G̣n năm 1984 khí hậu hè nóng như thiêu đốt, tin tức truyền lẹ ra xứ
ngoài "Giáo sư Doăn Quốc Sỹ bị Việt Cộng tống giam cùng nhiều nhà văn thời
VNCH". Anh Lê Thế Bằng là sinh viên sư phạm có học Thầy môn Ngữ Học kể lại
chuyện cũ: "Tôi không thể tin nổi một ông giáo hiền khô như ông bụt mà sao
cầm đầu nhóm nhà văn nổi dậy được !". Anh ở lại Sài G̣n trong hoang mang,
trong nhiều nghi vấn, nhưng không ai dám hỏi hay thắc mắc ǵ thêm, khi mà
nhà cầm quyền của Việt Cộng đang giơ nanh vuốt hung bạo ra như muốn xiết
cổ người dân miền Nam thêm. Sau này tôi có dịp đọc bài viết của nhà văn
Hoàng Hải Thủy thuật lại nội vụ, v́ chính ông cũng là nạn nhân bị bắt bớ
đó.
Như kinh nghiệm ngoài Bắc sau năm 1954 của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm,
tạo cái cớ để "hốt ổ", bắt bớ, đàn áp giới trí thức chống đối, nhất là
giới cầm bút, mà chúng cho là thành phần nguy hiểm, hậu quả là Phan Khôi,
Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Hữu Loan,... và
Phùng Quán, kẻ chết, người bị biệt giam. Cái cớ "Doăn Quốc Sỹ" được xem là
nhân vật đầu năo xách động "chống phá nhà nước" để túm bắt luôn các ông
Hoàng Hải Thủy, Duy Trác, Dương Hùng Cường và Trần Ngọc Tự cùng một đêm,
cho vào nhà giam Số 4 đường Phan Đăng Lưu vào ngày 2 tháng Năm, 1984. Tất
cả bị tù hai năm, nghĩa là đến năm 1986 trước ngày chúng họp Đại Hội Đảng
Kỳ 6, vụ án "Biệt Kích Cầm Bút" được đem ra ṭa, Việt Cộng kết tội gián
điệp. Theo luật lệ của Việt Cộng th́ tội “Gián Điệp” th́ kẻ đầu năo sẽ bị
kết án tử h́nh. Khi đó Việt Cộng muốn dùng cái gương xử tử để cảnh cáo
những mầm mống nổi dậy chống đối lại chúng đối với người dân. Tôi hỏi Thầy
có cảm giác như thế nào và Thầy có sợ không. Thầy ôn tồn trả lời: "Anh
biết mà một khi họ muốn hăm hại, muốn giết ḿnh th́ họ sẽ làm thôi. Không
chết lúc này th́ chết lúc khác. Chết là một trong 4 diễn tŕnh của cuộc
sống chúng ta". Tôi đọc trong ư nghĩ của Thầy chất chứa một triết lư sống
chết như chấp nhận hậu quả, mà không nao núng. Trong cái bản tính bất
khuất và cương trực đó, Thầy vẫn thản nhiên, không luồn cúi trước bạo lực,
kẻ thù đă sợ ông, bên ngoài đó chúng ta không quên những áp lực của các
nước Tây phương can thiệp vào chính trường Việt Nam. Tôi có hỏi Thầy tác
phẩm nào mà họ gài bắt ông để mang tội “viết văn chống phá cách mạng”,
Thầy cho biết chính là tác phẩm Đi, tức đi vượt biên mà phong trào vượt
biên lên cao điểm những năm 1980-1983. Về sau Thầy viết chuyện vượt biên
xong lén lút gửi ra xứ ngoài, Việt Cộng theo dơi gài bắt ông. Tác giả của
tập truyện là Hồ Khanh. Nhiều người ṭ ṃ về nguồn gốc tên này, Thầy dí
dỏm trả lời: "Hồ Khanh là Hành Khô đấy!". Thầy bị bắt rồi thả ra, rồi bị
bắt lại nhiều lần, tổng cộng bị giam hơn 10 năm, và tháng Hai năm 1995
Thầy và một phần gia đ́nh được đặt chân đến Mỹ.
Truyện ngắn Người Vái Tứ Phương in ra tại Mỹ, tôi đọc thấy những ư tưởng
bao dung với kẻ thù và lấy ḷng từ thu phục nhân tâm, chuyện kể về giáo sư
Hoàn mà tôi cứ nghĩ như nhân vật được tạo ra mang cá tính của Thầy. Giáo
sư Hoàn tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học từ Hoa Kỳ về nước dạy lại tại Đại
học Khoa học, sau 1975 ông được tiếp tục dạy, bên ngoài giáo sư Hoàn c̣n
là vị thầy bói tài giỏi. Giáo sư Hoàn đă chinh phục ḷng của viên trung tá
Công An Việt Công để y thay đổi cái tâm lại, và có lối suy nghĩ khá hơn.
Lăng đăng trong tâm tưởng tôi, Thầy vẫn mang một ảnh đẹp đẽ và từ bi.
Những kẻ giam cầm ông, ông không giận họ chỉ v́ họ chưa nhận ra cái tâm
thiện của con người, họ đă đánh mất nó từ lâu rồi. V́ theo Khổng Phu Tử
bảo là: "Nhân chi sơ tính bản thiện" mà. Ḷng quăng đại, cao thượng bàng
bạc trong ư nghĩ khi tôi đọc sách hay hàn huyên cùng Thầy trong những lần
gặp nhau.
Hôm nọ cách đây không lâu người anh họ tôi đến rủ tôi đi ăn buffet tại nhà
hàng Nhật bản Todai tại vùng Woodland Hills, nơi tôi và anh vốn thích món
salmon sushi. Anh thấy tôi cầm quyển Dấu Chân Cát Xóa, anh Dân hỏi tôi về
sự lăng mạn của nhà văn Doăn Quốc Sỹ trong ḍng văn của ông. Anh lớn hơn
tôi một tuổi, chúng tôi lớn lên tại Sài G̣n, rồi năm 75 anh và tôi được
bảo trợ ra thành phố Woodland Hills này. Nên từ quá khứ chúng tôi thân
nhau, và chia chung những niềm vui của lứa tuổi hai mươi tại đại học dạo
nào. Thầy Sỹ cũng đă du học tại Mỹ, ông theo học tại đại học Vanderbilt,
tại Nashville của Tennessee. Có điều ông hơn tôi 30 tuổi, khoảng cách quá
đủ là Thầy tôi về kinh nghiệm của cuộc sống cũng như nhiều khía cạnh khác
để dạy dổ hay hướng dẫn tôi như sự suy nghĩ riêng của tôi. Thầy trải qua
thuở nhỏ vào thời Việt Nam bị Pháp thuộc, phải học Pháp ngữ, tôi và anh
Dân lớn lên tại Sài G̣n vào những năm khi văn hóa Tây phương hiện diện khá
nhiều, khi tuổi trẻ chúng tôi thường vào Trung tâm Văn hóa Pháp gần bệnh
viện Grall trên đường Đồn Đất, hay Hội Việt Mỹ trên đường Mạc Đỉnh Chi gần
Ṭa Đại sứ Mỹ học thêm ngày trước. Cái thuở mà sách vở tiểu thuyết hay thi
ca vẫn đề cao những mối t́nh thanh niên Việt Nam ở xứ ngoài có bạn gái là
người Tây phương. Chẳng hạn như tôi c̣n nhớ bài hát Khúc Tango Sầu của
nhạc sĩ Song Ngọc kể về người sinh viên Việt xa nhà, rồi gặp người em gái
mắt xanh:
"Tôi đời sinh viên thuở đó
Yêu người con gái viễn xứ.
Mối t́nh say đắm rực rỡ
Tựa ánh sáng Paris.
Em ngày xưa ấy mắt xanh môi hồng.
Đêm Moulin Rouge diễm mộng
Sầu điệp khúc t́nh yêu..."
hay với khung trời thơ đầy lăng mạn của Cung Trầm Tưởng với người em gái
tóc vàng qua bài Mùa thu Paris:
"Mùa Thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu
Mùa Thu Paris
Tràn lấp đôi mi..."
Ngày tôi 22 tuổi cùng anh Dân đi xi-nê cùng hai cô bạn học người Mỹ,
Michelle gốc Pháp Canada dạy anh Dân cả Anh và Pháp ngữ, và Denise gốc Ư
tập tôi ăn hai món Ravioli và Lasagna đến độ thích thú. Thời gian ấy gái
Việt Nam là những ánh kim cương v́ quá khan hiếm, và v́ số cung thiếu nên
bọn sinh viên chúng tôi phải làm quen với "gái ngoại kiều" như tiếng chúng
tôi thường dùng trong ư nghĩa khôi hài. Có những cuối tuần khi chúng tôi
chui vào rạp hát trên đường Mulholland Drive, anh Dân choàng vai em gái
tóc vàng hoe Michelle, có đôi mắt xanh biếc vào trước, tôi và Denise tóc
nâu khoác tay nhau vào sau để rồi chúng tôi xem em xao xuyến nhiều hơn xem
màn ảnh. Tôi c̣n nhớ khoảng thời gian màu nhiệm khi mà màn đêm của khoảng
không gian đồng lơa với những nụ hôn Pháp giao thoa trong xúc cảm nồng
nàn, hay như khi những bờ môi đi hoang theo nhịp đập đồng bộ của đôi tim
đắm say của tuổi trẻ sung măn yêu đương. Ôi, những chuyện t́nh vô tư đó,
sao quá say đắm của chuỗi ngày bơ vơ khi ly hương…
Nói đoạn trên để tôi trả lời anh Dân hỏi về nhà văn Doăn Quốc Sỹ trong
khuynh hướng văn lăng mạn. Có hay không? Với tôi, thưa rằng có chứ. Hăy
đọc lại tác phẩm Dấu Chân Cát Xóa ở chương ba (bài Đất Mầu), các trang 45,
54, 55, 57 là những đoạn tôi cho là "lăng mạn đến bốc lửa". Chuyện kể về
chàng sinh viên Việt Nam du học yêu cô đầm Mỹ Martha, mà hồn ái ân dâng
cao như con sóng thủy triều tràn ngập đôi tim:
"trong khi Martha chưa cho xe chạy Chương ưu ái vuốt mái tóc vàng óng của
nàng:
- Martha để tóc dài thế này đẹp hơn kiểu uốn tóc ngắn ngày xưa nhiều lắm.
- Thật vậy sao, Chương ?
Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:
- The closer I get, the better you look !
Chàng muốn hôn lên miệng Martha...
- A a a a
Martha cho xe chạy ngay. Những âm thanh đơn giản đó là dấu hiệu rất Mỹ của
bất kỳ cô gái Mỹ nào muốn nói, "Ấy chớ. Đừng. Chưa được đâu !"
Chuyện t́nh gặp gỡ giữa Chương và Martha kéo dài cả chương ba lâm li, gây
cấn này, mà cả khối thanh niên Việt Nam nào c̣n ở bên nhà cũng náo nức
muốn t́nh nguyện sang du học tại Mỹ cả. Tôi đọc tiếp nơi trang 53 và 54:
"Trời bên ngoài thật lạnh, cái lạnh khô sắc, nhưng trăng tṛn - trăng rằm
hay trăng mười sáu th́ phải - vằng vặc trên trời chiếu xuống cả một vùng
tuyết trắng. Cả hai bước vội ra xe, gót giầy va vào những vạt tuyết trên
thềm nghe sào sạo như đá vụn. Vừa vào trong xe chưa kịp ngồi gọn, cả hai
đă tự thấy ôm gh́ lấy nhau tự lúc nào, tựa hồ như hồn họ đă vào xe trước,
ôm nhau trước, hai cái xác nặng nề ́ ạch rượt theo vừa kịp nhập vào để tự
soi sáng cảm giác. Chương t́ môi mạnh hơn trên điểm lúm đồng tiền của
Martha... Chương t́m lại hương vị thơm đắng mùi cà-phê trên môi Martha,
một bàn tay Chương xoa lên khoảng vai rồi cả khoảng ngực tṛn trịa của
nàng.
- Về nhà đă, Chương ! - Martha van vĩ.
Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những vùng
sao lóe sáng rụng lả tả... rụng lả tả trên khắp vùng da thịt...
Những vùng sao lóe sáng không c̣n rụng lả tả xuống da thịt Martha nữa, mà
chính da thịt Martha bốc ngược chiều của ánh sáng, hào quang tỏa ra mênh
mông bất tận. Cơn rạo rực của Chương được thỏa măn rồi dịu đi rất chóng
tàn và không hiểu sao chàng nhớ lại câu chuyện tâm t́nh đêm trước, cũng
khoảng giờ đó, với thầy học cũ. Cũng chính cái b́nh tĩnh của Chương gặp
cái rực rỡ bốc cháy của Martha làm cho cuộc t́nh gặp gỡ phù du của đôi bạn
cũ tránh được như thứ lửa t́nh chóng bốc chóng tàn, mà trái lại như được
chuyển hóa thành thứ t́nh của thâm sâu, của trường cửu suốt phần đêm c̣n
lại... Cả hai cùng lập lờ ch́m trong trạng thái nửa thức nửa ngủ với những
cử động phản xạ - những vuốt ve, những nụ hôn, những áp đầu, giụi mũi."
Đấy là văn lăng mạn của nhà văn Doăn Quốc Sỹ mà tôi chứng minh với anh
Dân. Dù câu chuyện nói lên nỗi khao khát của người thanh niên xa nhà, khi
gặp người bạn học gái dễ thương, khi men t́nh đă dâng lên tạo ra những ham
muốn rất tự nhiên. Chúng tôi cùng thế hệ khi đồng ư là t́nh yêu và t́nh
dục là hai khía cạnh của nhu cầu đời sống thường nhật, hạnh phúc của lứa
đôi sẽ đến khi hai yếu tố này được quân b́nh khi âm dương ḥa hợp và sự
trong sáng từ ư nghĩ của sự hiểu biết b́nh thường. Chương và Martha tự
nguyện đến với nhau khi hai người độc thân, cô đơn trong thèm khát. Chuyện
t́nh của họ cho tôi chứng minh ḍng văn của nhà văn Doăn Quốc Sỹ có bốc
lửa, có trăng hoa lăng mạn. Tôi đọc truyện t́nh Đất Mầu này mà cứ ngỡ đang
đọc tiểu thuyết Yêu của nhà văn Chu Tử dạo trước khi c̣n ở bên nhà. Thực
ra những chuyện t́nh cảm khác mà nhà văn Doăn Quốc Sỹ viết đều nhắm vào
thứ t́nh thanh cao, trong sáng. Tôi muốn đề cập đến t́nh yêu lư tưởng cao
thượng hay loại lăng mạn thuần khiết (platonic) như ngày xưa mà nhà văn
Nguyễn Mạnh Côn viết về T́nh Cao Thượng.
Thầy Sỹ viết nhiều tác phẩm đề cao t́nh người, t́nh nhân loại, ư nghĩ của
ông có lẽ cùng chung quan niệm với nhà thơ mà tôi vô cùng thích,
Rabindranath Tagore, về ḷng bao dung thương hại kẻ thù, sự quư mến giá
trị nhân phẩm và ư nghĩ xót thương người nghèo khổ. Trong tác phẩm Người
Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Thầy Sỹ viết trong xót xa: “chứng kiến cảnh nghèo
của nhà chị Cầu, nghe tiếng khóc đau đớn của thằng bé để tưởng như tiếng
khóc của dân tộc...”
C̣n trong tác phẩm Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, tôi xúc động nhiều khi đọc
nó, nhất là đoạn cuối của câu chuyện đầy thương tâm này. Trong khi tản cư
đi lánh nạn bom đạn thời thời chiến tranh chống thực dân Pháp, v́ nhà quá
nghèo nên phải nói dối một lần về Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều nhặt được cho
em ông đắp, chuyện tiếp là: “Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào
Nam, tôi c̣n trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ,
nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất
với tôi vẫn là truyện chiếc chiếu hoa cạp điều". Thầy Doăn Quốc Sỹ kể lại
trong tác phẩm Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều:
"Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường Hai mươi về
giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay
trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều
khi xưa. Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông
tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của
hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác
xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp ḥi, kiêu ngạo, ích kỷ,
sắc cạnh. Ḷng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân ḿnh
vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi
sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những
h́nh ảnh lam lũ một sương hai nắng, những h́nh ảnh giật gấu vá vai, tôi
thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa
kinh thành.
Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh
hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ
linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được
bằng t́nh thương yêu rộng răi và chân thành.
Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước
mắt các bạn bè thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu.
Các bạn yêu quư của tôi!
Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ
hàn mà tôi và những người thân của tôi đă trải qua, trong đó có chuyện
Chiếc chiếu hoa cạp điều! Doăn Quốc Sỹ."
Tôi trích đoạn văn này nơi trang 214 từ sách Doăn Quốc Sỹ toàn tập - Ǵn
Vàng Giữ Ngọc - Gánh Xiếc mà Thầy đă tặng cho tôi.
Cả đời Thầy quay quần với tiếng Việt, yêu dân tộc văn hóa Việt Nam, trang
104 của sách Người Việt Đáng Yêu, Thầy viết:
"Dân tộc Việt Nam đă tự vệ tự tồn bằng cái ư thức luân lư hết sức mạnh mẽ
vững bền của ḿnh cách ăn ở luôn luôn có t́nh, có nghĩa, trung hậu, thành
tín. Ư thức đó đă thành một phản ứng sâu sa bén nhạy v́ người dân Việt
sống giữa thơ, tục ngữ, cổ tích, thần thoại rất mực đạo đức của ḿnh như
cá sống giữa biển..."
Điều trên gần như định nghĩa về Dân tộc Việt Nam, nếu tôi cho rằng chúng
ta không quá tự phụ về nguồn gốc của ḿnh. Mà mấy ai không muốn nguồn gốc
ḿnh đẹp đẽ chứ nhỉ ? Rồi ở đoạn khác Thầy viết tiếp như nước chảy hăy về
nguồn, một câu nói cần thiết cho giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại:
"Hăy trở về với nguồn dân tộc, với ḷng hiếu hạnh vô bờ, t́nh anh em thắm
thiết, t́nh bạn cao quư, t́nh dân tộc mănh liệt; th́ trong cơn phong ba
của đời có như phong ba của đại dương kia, sóng nhô lên thành núi, nhào
xuống thành vực; chúng ta có nhỏ như cái chai nhưng là cái chai được giữ
ǵn cho kín đáo nên mặc cho phong ba gầm thét uy hiếp, cái chai vẫn nổi mà
không ch́m. Hăy trở về với nguồn dân tộc.” (Trích Người Việt Đáng Yêu -
Doăn Quốc Sỹ)
Hôm tôi sang Houston, tôi có mang một ít báo từ Cali sang như Việt Báo,
Thời Luận và Saigon Times để biếu cô Sỹ. Cô cho biết cô thường ở quanh
quẩn trong nhà, và thường đọc sách báo. Cô Sỹ chính là ái nữ của nhà thơ
Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Trong số báo Saigon
Times này có đăng bài viết của nhà văn Nguyễn Văn Quảng Ngăi, bài mang tựa
đề Doăn Quốc Sỹ: Một Tâm Hồn Thanh Thản, Đôn Hậu, Cao Thượng, tác giả nhận
xét về Thầy Sỹ như sau:
"Ǵn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên cuả tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít
người đă quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều: Ǵn vàng giữ ngọc
cho haỵ cho đành ḷng kẻ chân mây cuối trời mà Kim Trọng đă ân cần dặn ḍ
Thúy Kiều trước khi giă biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du
chẳng những đă không trách họ Doăn mà c̣n vui mừng khi thấy hậu thế đă
biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của ḿnh để khuyên nhủ thế nhân. C̣n nữa,
Doăn Quốc Sỹ c̣n nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ư nghĩa như: Ḍng
Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Trái Cây Đau Khổ...
Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn c̣n nh́n với đôi
mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp
đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có
"Tự Do", cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh
thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng
bạo lực không cách ǵ đập nát trái tim ông và đặt vào đó ḷ lửa căm thù.
Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con
người dùng bạo lực để hành hạ ông...
Vâng, ch́a khóa của kiếp nhân sinh là cái "Tâm". Các vấn nạn trên thế giới
nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái
"Tâm"... "
Nhà văn Hoàng Khởi Phong cho nhận định về cá tính về Thầy Sỹ như sau:
"Những ai đă từng yêu Doăn Quốc Sỹ, nhận ngay ra văn phong của ông trong
ba tác phẩm này. Ông là một ng̣i bút dùng để tuyên dương điều thiện, cái
đẹp, thế mà ông bị giam hăm trong một vùng đất mà tính ác và điều xấu bao
trùm tới khóm cây ngọn cỏ. Thêm vào đó gần hai chục năm đắm ch́m trong suy
nghĩ, không có dịp cầm bút, nên cái nhịp của các tác phẩm này chậm chạp,
các nhân vật ít linh hoạt hơn, so với những nhân vật trong các tác phẩm
trước kia của Doăn Quốc Sỹ."
Tôi tham khảo sách biên khảo về văn học của nhà văn Nguyễn Vy Khanh bên
Canada viết về nhà văn Doăn Quốc Sỹ, trích đoạn từ 40 Năm Năm Văn Học
Chiến Tranh, Phần I, 1997:
"Doăn Quốc Sỹ viết nhiều về chiến tranh với bộ Khu Rừng Lau (5 cuốn),
chuyện Khiết, Kha, Miên, Tân, ... , những con người yêu nước không cộng
sản, theo kháng chiến chống Pháp, thất vọng về con người và chủ nghĩa cộng
sản tàn bạo, xảo quyệt, họ trốn về thành rồi di cư vô Nam. Những kinh
nghiệm chính trị đeo đuổi họ, khiến họ thành những con người phản kháng,
những người "cách mạng", lúc nào cũng đi t́m, lập thuyết, đến cả bất măn
chế độ đệ nhất cộng ḥa, thấy "miền quốc gia (...) thủ đô đầu năo đă thành
băi rác mênh mông có lẫn đủ loại bài tiết của lũ người nô dịch đến xương
tủy cho nếp sống đơn thuần vật chất. (Những Ngă Sông Trên Gịng Đời, tr.
194). Chính cái "ung nhọt" "xù uế" đó của người quốc gia đă xô đẩy những
người trẻ sang phía đối phương mà Hiển, một nhân vật chính, đă biết rơ.
Tập Khu Rừng Lau vừa là một bản phân trần những bế tắc của một lớp người
trẻ yêu nước vừa là một bản phân tích các chế độ chính trị độc tài. Trong
các tập truyện khác như Hồ Thùy Dương hay truyện Tiếng Hú Tâm Linh, họ
Doăn nói đến những phương cách làm cách mạng. Truyện Ḍng Sông Định Mệnh
(1965) tả những hèn nhát của cán bộ ở chiến trường B́nh Trị Thiên "Đâu đâu
cũng chỉ thấy những người dân tự động làm nuôi nhau, tự động chống giặc.
Hầu hết cán bộ đảng chính cống h́nh như đă chuồn ra Thanh Nghệ Tĩnh từ lâu
rồi..."
Cuối cùng sau đây, tôi dẫn dụ ư tưởng của nhà văn lăo thành Vơ Phiến viết
về nhà văn Doăn Quốc Sỹ, trích đoạn từ sách Việt Nam Văn Học Tổng Quan,
tái bản 1988:
"C̣n Doăn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết.
Khiết “kiên tŕ theo con đường văn hóa”, nhưng “đă trót đi vào con đường
chính trị, biết những ngơ ngách của nó, âu cũng thành nghiệp chướng của
ḿnh, khó bỏ lắm.”. Khu Rừng Lau phơi bày cái hiểm ác của chế độ này, lột
trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong
tác phẩm. Tuy vậy, ông Doăn cũng như Khiết, trước sau “kiên tŕ theo con
đường văn hóa”: Ông chê cái này chống cái nọ v́ nó xấu nó ác. Mà ông th́
nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện tâm thiện ư của tác giả tỏa ra
khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doăn nhân vật nào cũng tốt, việc
ǵ cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc
xấu. Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doăn vừa có luận đề
chính trị vừa có chủ tâm giáo dục."
oOo
Sau nhiều ư tưởng ghi nhận về Thầy Doăn Quốc Sỹ trong bài này, tôi muốn
kết luận bằng những nhận xét của những nhà văn vừa kể trên cũng như gửi
bài thơ chúc "Sinh Nhật 84":
ChúcThầy sinh nhật tám tư
Đồng Tâm, Sáng Tạo hồn như dạt dào
Cầu Trời Thầy tuổi đă cao
Trăm năm thọ măi thêm bao xuân về
Ḍng văn Tiền Kiếp người phê
Hài ḥa văn học tràn trề tâm giao
Ḍng Sông Định Mệnh năm nào
Ǵn Vàng Giữ Ngọc nhiệm màu văn chương.
Việt Hải, Los Angeles.
Để chấm dứt, Việt Hải kính gửi bài viết này đến giáo sư Doăn Quốc Sỹ và
mong rằng sẽ c̣n nhiều ngày vui sinh nhật nữa đến với Thầy. Happy Birthday
and many, many more to come !
Ghi chú: Cám ơn ba anh Nguyễn Ngọc Chấn, Vương Trùng Dương và Dương Viết
Điền của nhóm văn Cali Weekly, Nam Cali cùng góp ư vui.