Ba Mươi Năm Nhìn
Lại
Việt Hải
Tôi treo cuốn lịch mới lên tường trong ý nghĩ
hân hoan của đầu năm 2005, rồi ngắm nghía, thoáng một chút tư lự
nghĩ suy. Cũng vào thời điểm này 30 mươi năm xưa xứ sở Việt Nam
đang đắm chìm trong cuộc nội chiến ý thức hệ đã làm cho người dân
hai phía thật tang thương, khổ sở. Tôi gỡ từng trang lịch từ mùa
xuân đến cuối cuốn lịch là mùa đông để tự nhủ rằng thời gian như
thoáng mây bay, đến nay tôi ly hương gần tròn 3 thâp niên của
những đổi thay trong đời.
Những ngày này năm xưa vẫn chưa quên trong tôi
khi nghe những tin chiến sự dồn dập, nghe trong buồn bã như ngày
18 tháng giêng VNCH mất tỉnh Phước Long, quân đội CS Bắc Việt vi
phạm hiệp định Ba Lê gởi khi quân vào miền nam. Rồi tháng 3 Ban Mê
Thuột thất thủ, rồi kéo theo vùng 2 cao nguyên Trung phần và vùng
1 địa đầu chiến tuyến bị mất. Ranh giới VNCH tiếp tục thu hẹp, rồi
cuối tháng Tư thì Sài Gòn bị địch quân vây hãm. Thế là tôi theo
đoàn người di tản ra đi. Đi đâu bây giờ ? Ngồi trên chiếc soái hạm
HQ1 Trần Hưng Đạo tôi thẫn thờ như kẻ mất hồn. Từ biển Nam Hải tôi
rời quê hương sang Guam để chuyển tiếp đi định cư tại Hoa Kỳ.
Ôn lại những ngày bỡ ngỡ rời trại tị nạn camp
Pendleton, một căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gần San Diego,
tôi được nhà thờ Tin Lành bảo trợ ra sống tại khu vực San Fernando
valley hướng tây bắc Los Angeles. Là dân tị nạn thì tôi cần việc
làm để tự nuôi thân, tôi nói với vợ chồng ông bà bảo trợ viên như
vậy rồi lao vào xã hội mới đi làm. Tôi làm đủ nghề từ cắt cỏ, rửa
chén, lau phòng hộ sinh, lau chùi nhà xác, thợ tiện để sau này lên
làm quản trị viên thương mại.
Những đợt di dân đầu tiên như 75 phần lớn thiếu
nhiều kinh nghiệm sống ngoài xã hội Hoa Kỳ. Họ bơ vơ, lạc lỏng khi
va chạm với thực tế của nước Mỹ. Tôi có người bạn học luật khoa
Sài Gòn sang đây được bảo lãnh sang thị trấn nhỏ khỉ ho cò gáy
Casper thuộc tiểu bang Wyoming, anh Hòa được việc trong một nông
trại mà người chủ nông trại nơi anh làm là người đã bảo trợ cho
anh. Hòa rất siêng năng làm việc cho nông trại, mỗi ngày anh cỡi
ngựa ra đồng quan sát đàn bò, anh ăn thịt bò, sống gần gủi kinh
nghiệm chăn bò, và nghiên cư’u về bò được ba năm, anh dọn về
Colorado đi học lại, chọn ngành kỹ sư và đã ra trường. Một anh bạn
tôi quen trong tại tị nạn, khi ở Sài Gòn anh học dược khoa, nhưng
được bảo lãnh ra thành phố Great Plains, Nebraska. Đây là tiểu
bang nông nghiệp, anh Đằng lái xe ủi đất, xe máy cày ròng rã 8 năm
quanh các cánh đồng phì nhiêu trồng bắp, đậu nành và lúa mì. Anh
tạm xa ngành dược và hòa đồng với ngành nông, sau này anh dọn về
Texas và ra trường dược sĩ ở đó. Tôi có người anh họ học kỹ sư tại
Sài Gòn, anh Dân vừa làm ca ba khuya(graveyard shift) tại một công
ty salon bán xe hơi hiệu Lincoln, anh đi học ban ngày, hè đến anh
làm thêm nghề rửa chén dành dùm gởi tiền về bên nhà nuôi cha mẹ và
anh em. Bao nhiêu bạn bè tôi đều vất vã phấn đấu cho cuộc sống mới
để lo cho gia đình còn kẹt lại và để có ngày mai tươi sáng hơn tại
xứ sở cơ hội này. Tôi không đi ra ngoài qui tắc chung này của thế
hệ 75. Ngẫm nghĩ lại những ngành tôi làm có vui, có rùng mình. Hai
kỷ niệm đáng nhớ là khi tôi làm cho phòng hộ sinh. Không ai không
qua nơi chốn này khi mình được sinh ra đời. Nhưng có trải qua kinh
nghiệm là một loại nhân viên lao công phòng hộ sinh thì tôi mới
thấy thế nào là công mang nặng đẻ đau của phụ nữ. Khi một ca đẻ
xong thì tôi đeo “khẩu trang” và găng tay vào làm phòng sạch sẽ
lại. Nhìn những túi nhau đục hòa trong máu huyết tôi rùng mình,
máu me trez^n giường đẻ và lại hít hít cái mũi ngữi mùi tanh tưởi.
Giờ ăn trưa đầu tiên tôi ngồi chung vơ’i mấy cô y tá, bỗng tôi
chạy ù lại thùng rác gần đó ói hết dĩa spaghetti tôi vừa ăn vào.
Cô y tá Joan Solberg chạy theo tôi hỏi chuyện gì xảy ra, tôi nói
tôi nhớ lại mấy bịch nhau sáng nay tôi muốn ụa ra. Cô an ủi nói vì
ông chưa quen thôi, khi quen rồi sự việc sẽ bình thường, cô trao
tôi một miếng chewing gum. Vâng, Joan nói đúng sau vài tháng tôi
cảm thấy quen dần và dễ chịu hơn, nếu thiếu nó không chừng lại nhớ
nhớ hay sao đó. Trong suốt thời gian tôi làm ngành này tôi gặp mỗi
có một khách hàng người Việt Nam, chị tên Mai, sinh một cặp con
gái sinh đôi. Tôi thán phục sức chịu đựng của phụ nữ Việt Nam. Dù
sinh có khó họ vẫn chịu đựng, giữ mức độ rên la vì đau đớn nhỏ
nhẹ, khác với nhiều khách hàng người địa phương mà tôi chứng kiến.
Nhiều bà vì quá đau đớn đã la mắng quý ông chồng “ham vui” và “ác
ôn” có bài bản, tiếng hờn trách nghe như cô đơn và bẽ bàng. Những
cái loa Bose âm thanh nổi đó vẫn còn trong tiềm thức tôi và nó cho
tôi cái cảm nhận công lao của người phụ nữ. Phải chăng Tạo Hóa quá
bất công? Đàn ông được vui mà lại không đau tí nào cả. Bù lại bà
mẹ sẽ vui sau khi biết kết quả mẹ tròn con vuông và trông đứa bé
kháu khỉnh.
Sau này vì nhu cầu cần đi học lại ban ngày, tôi
đổi việc làm khác sang làm cho nhà xác. Tôi xin làm ca hai, tức ca
chiều từ 4 giờ đến 12 giờ rưởi. Ở lứa tuổi trẻ hơn đôi mươi vốn tò
mò, hiếu kỳ, ngày đầu tiên tôi được hướng dẫn đi một vòng xung
quanh phòng lạnh chứa xác để huấn luyện. Tôi trong cái “khẩu
trang” và đôi găng tay, bỗng dâng lên cái cảm giác rùng mình khi
ngó từng xác chết, phòng ướp xác tỏa ra hơi lạnh từ máy lạnh mà
đèn thì lại mờ mờ thế mới mơ mộng. Người ta chết đủ loại, đủ kiểu,
chết vì tai nạn xe cộ, chết vì tự vận, chết vì giết nhau, chết vì
bệnh tật,... Nhìn quanh tôi thấy cả cái thế giới cuối đời quanh
đâu đây. Có hôm tôi mở ngăn tủ kéo đựng xác ra lau chùi máu hoen
rỉ, tôi ớn lạnh xương sống một thanh niên tóc vàng bị móp méo đầu,
có lẽ bị tai nạn xe cộ, anh mất cả 1 bên mắt và lổ tai vì bị
nghiền nát. Cảnh tượng thật hãi hùng khó quên trong tôi. Nhìn
nhiều ngăn kéo hay hộc đựng xác chết, tôi đọc tên rồi đóan người
rồi đếm khẽ "úm bà là mở ra coi". Có hôm tôi kéo hộc tủ ra thấy
một bà cụ già hai đôi mắt nhắm nghiền, má hóp hom hem, miệng vẫn
cười tủm tỉm. Tôi lẩm bẩm: “Chắc bà cụ này cảm thấy vui khi được
giải thoát”. Rồi có hôm tôi mở hộc tủ thấy một người đàn ông to
lớn con, đầu hói, đôi chân mày rậm, mũ cong như mũi két, có hàng
rau mép điển trai, một mắt ông nhắm, một mắt hé mở hay là ông hé
mắt hỏi tôi: “Ông cần chỉ??”. Đêm về tôi mất ngủ và cảm thấy bóng
ma lởn vởn khi nghĩ về từng vị khách hàng mình đã xem mặt, và mai
họ sẽ được đem đi. Rồi công tác một ngày như mọi ngày khi mình lau
chùi hộc tủ cho sạch sẽ để ngày mai đón chào những vị khách mới.
Trong cái bối cảnh buồn vui của cuộc đời mà tôi
trải qua những năm đầu tiên tại Mỹ, một kinh nghiệm mang cả chu kỳ
của kiếp sông nhân thế là sinh, bệnh, lão, tử ẩn hiện trong tâm
trí của tôi. Tôi chạnh nhớ môn tâm lý học khi giáo sư Lê Thanh
Liêm diễn giảng về những tâm lý sợ hãi, quan niệm giữa sự sống và
cái chết, những triết gia như Epicure, Kant, Socrate, Spinoza,
Freud,... cũng như quan niệm của Phật Giáo. Tôi suy tư nếu cái
chết đến để châm dứt một kiếp người mà ta cầu siêu theo Phật Giáo
để người ra đi được sớm giải thoát, thì Freud trong quyễn “Beyond
the Pleasure Principle” (xuất bản 1920) cho là sự chết là sự tái
lập tình trạng đi đến cực lạc. Như thế thì cả triết lý Phật Giáo
và quan điểm của Freud đều nói về sự giải thoát. Nhưng trong sự
suy luận phân tâm học theo Freud thì giải thoát qua bản thể ham
muốn (Eros, libido) không bình thường, ví dụ bản năng thú tính
(animal instinct) là sai lệch được sửa đổi hay cảm hóa trở lại cho
tâm thức bình thường lại. Trong khi thuyết nhà Phật đi cao hơn, xa
hơn khi trong quan niệm đạt đến sự giải thoát là thân tâm an lạc,
bản thể ham muốn không còn tồn tại. Tôi học ban toán, nhưng có
điều tôi rất say mê và văn chương và triết lý.
Dù rời trường Petrus Ký đã lâu, tôi không biết
thầy Liêm dạy môn triết học lớp 12B4 niên khóa 72 nay ở đâu, những
ý niệm căn bản triết học khi xưa chợt hiện về khi tôi đối diện với
xác chết mỗi ngày trong nhà xác. Hôm nào nhà xác đắc hàng, đắc
khách hàng tôi nhớ triết gia Sigmund Freud và môn triết của thầy
Lê Thanh Liêm của năm 1972 nhiều hơn.
* Người Việt và Phố Việt:
30 năm trôi qua mà bàn về những sinh hoạt kinh
tế nở rộ của tập thể người Việt Nam tại xứ Mỹ là một đề tài miên
viễn. Hầu như thành phố nào có người Việt họp lại là có phố Việt.
Những nơi tiêu biểu như Orange county có Little Saigon, Los
Angeles, San Jose, San Francisco, Sacramento, San Diego, Seattle,
Houston, Dallas, Denver, New York, Virginia, Boston,… Little
Saigon là chuyện thần thoại của cậu bé tí hon mang đôi hia 7 dặm.
Nơi đây đem lại hơi ấm mang bao tình tự dân tộc cho người đồng
hương, nơi mà ngôn ngữ Việt Nam còn được lưu truyền trong văn hóa
của người Việt Nam. Trước năm 75 những con phố mà ngày nay có mặt
đầy ắp các hàng quán Việt Nam là những con đường vắng vẻ vì còn là
đồng ruộng hay là những dãy nhà không có giá trị nhiều về kinh tế
như Bolsa, First Street, Brookhurst, Westminter,… Ngày nay những
con đường đó trở thành những phố xá mở mang, nhịp độ phát triển
kinh tế sung mãn theo đà số ngườ Việt tiếp tục đổ xô về tìm đất
hứa khi mà đất lành thì chim đậu. Người ta cho biết con số thương
vụ trao đổi hằng năm tại Little Saigon những năm gần đây là 6 tỷ
mỹ kim. Nếu không có sự hiện diện của cộng đồng người Việt mà
thành phố muốn biến một dự án qui mô như Little Saigon cho phố xá
phồn thịnh để thu tiền thuế có lẽ không dễ dàng.
Ba mươi năm nhìn lại khi các bạn bè thành danh,
nhiều người có con cái thành đạt vinh quang. Một cộng đồng Việt
Nam non trẻ thuở 75 tại xứ Hoa Kỳ này đã có bao người dồng hương
tự phấn đấu khổ cực để sinh tồn và để vươn lên. Năm 1986 tôi được
dịp thăm viếng phòng thí nghiệm JPL thuộc cơ quan Nasa tại
Pasadena, tôi xem hình có một bức ảnh chụp phi hành gia gốc Việt
là Eugene Trịnh bên cạnh các các phi hành gia người Mỹ, là người
Việt Nam tôi sung sướng lây khi nói chuyện với các bạn Mỹ. Eugene
Trịnh là một khoa học gia, anh có cấp bằng tiến sĩ Vật lý học.
Rồi năm 2000 khởi đầu cho một thiên niên kỷ mới
thì nước Mỹ điên đầu về cuộc tranh chấp gay gắt kết quả sau cùng
của cuộc bầu củ tổng thống giữa hai ứng viên Al Gore và George W.
Bush, tôi thấy một người Việt Nam được các đài TV Mỹ như Foxnews,
CNN và MSNBC liên tục phỏng vấn ông. Đó chính là giáo sư Đinh
Việt, dạy tại đại học Luật khoa Goergetown. Ông giải thích cho cả
nước Mỹ nghe về những khía cạnh khúc mắt của luật hiến pháp Hoa
Kỳ. Giáo sư Việt sau đó được mời làm Phụ tá cho Bộ trưởng Tư pháp
Hoa Kỳ. Tôi là người Việt Nam thì làm sao không vui được ? Rồi kỳ
bầu cử gần đây 2004 tại Hoa Kỳ, nhiều người trẻ Việt Nam được đắc
cử do người dân bầu vào các chức vụ đại biểu công cử. Đó là tương
lai tươi sáng của cộng đồng Việt Nam đang vươn lên trong niềm tự
hào về nguồn gốc và bản sắc của mình. Tôi lại vui khi xem TV phỏng
vấn một người trẻ Mỹ gốc Việt ra đời tại Hoa Kỳ sau biến cố 75. Đó
là cô Mina Nguyễn, cô nói song ngữ Anh Việt lưu loát. Người trẻ
Mina Nguyễn được bổ nhiệm làm cố vấn cho Tòa Bạch Cung về những
vấn đề liên quan tới cộng đồng người Mỹ gốc Á. Mina không phải
người đầu tiên làm việc cho Cơ quan đầu não ngành hành pháp. Tòa
Bạch Cung còn có một người Việt trẻ khác trong chức vụ cố vấn là
anh John Quốc Dương. Đó chỉ là vài ví dụ tiêu biểu của tuổi trẻ
vươn lên. 30 năm hay 3 thập niên vừa qua đã đánh dấu không biết
bao nhiêu sự hãnh diện về các người trẻ Việt Nam thành đạt tại xứ
sở này. Họ là tương lai cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ từ khắp
các lãnh vực cần thiết cho bánh xe xã hội này.
Nhìn chung thì 30 năm qua cộng dồng người Việt
Nam đã gặt hái được nhiều thành công lớn. Điều kỳ vọng nhất cho
chúng ta, những người Việt tại Mỹ, là thế phát triển về kinh tế xã
hội đã có đà vững vàng, và sự tăng trưởng về những thành quả văn
hóa giáo dục và thành công về chính trị của giới trẻ đang có nền
tảng vững mạnh cho phép chúng ta lạc quan hơn khi 3 thập niên tới
sẽ đem cộng đồng người Việt sẽ tiến xa hơn gấp bội lần.
Lời kết của bài “30 Năm Nhìn Lại” này là trong
cái tai ương, xui xẻo của miền nam Việt Nam xụp đổ ngày 30 tháng
Tư thì sự có mặt của người Việt tại Mỹ nói riêng hay người Việt
định cư tại các quốc gia kỹ nghệ tiền tiến nói chung phần lớn đạt
những thành công đáng khích lệ. Nhịp độ phát triển cộng đồng đang
tiến triển theo chiều hướng lạc quan, thuận lời thì niềm hãnh diện
Việt Nam sẽ còn nhiều và chắc chắn sẽ đuợc nối tiếp.
Riêng cá nhân người viết bài rất vui khi ngồi
viết bài này như khúc thụy du êm ái và yêu đời, có chút gì thanh
thản tâm tư khi mùa Xuân 2005 chan hòa về với chúng ta, để mĩm
cười tươi tắn hơn khi nhìn lại những tháng ngày gian khổ đã qua.