Gần đến ngày 30 tháng Tư
thì những ngày tan thương, kỷ niệm đau thương lại về với tôi. Trên
màn ảnh của chiếc máy vi tính là bức email của anh Phan Nhật Nam
gửi đến.
"Nầy bạn hiền, tháng
Tư không phải riêng bạn buồn đâu, những tháng Tư đến với tôi không
một chút bình an. Tôi có mặt từ ngày 13/03/75 tại mặt trận Pleiku
cho đến ngày chót của VNCH, 30/04/75, tôi có mặt trước tiền đình
Hạ Viện. Một trang sử cũ thật u buồn."

Phan Nhật Nam là lính Dù
tác chiến, anh có khả năng ngòi bút đặc biệt về văn phóng sự chiến
trường, tôi thích đọc tác phẩm của anh, từ Mùa Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh
Lửa, Dựa Lưng Nỗi Chết, Dọc Đường Số Một, đến
quyển Tù Binh và
Hòa Bình.
Anh kể tôi nghe những
mưu toan khi người cộng sản xua quân xé bỏ Hiệp định Paris để xâm
lăng cưỡng chiếm Miền Nam, vào tháng 12 năm 1974 các binh đoàn
Bắc Việt ào ạt tấn công Phước Long, rồi mùa xuân tháng 3 năm 1975
lại tấn chiếm Ban Mê Thuột. Vết dầu loang lan dần về thủ đô Sài
Gòn. Sách Tù Binh và Hòa Bình, ra đời vào 1974 tại Sài Gòn. Anh kể
về những thua thiệt cay đắng.
Hiệp định này không có
một mảy may giá trị qua tất cả mọi điều khoản khi mang ra thi
hành... Từ việc phân định vùng giao tranh, lập các tổ kiểm soát,
và ngay cả chi tiết cụ thể như việc trao trả tù binh bị các bên
giam giữ. Vì trong phần vụ công tác, Phan Nhật Nam là người lập
kế hoạch trao trả, và thực hiện kế hoạch ấy qua nhiều địa điểm
trao trả suốt hai miền Nam, và ra Bắc. Điều khoản I về Nghị Định
Thư Tù Binh đã làm biến mất toàn thể khối tù binh ra đi từ các
trại quân miền Bắc. Để đối lại, trong danh sách tù binh của VNCH
lại thiếu vắng toàn diện những quân nhân bị bắt trước trận chiến
Mùa Hè 1972. Những sĩ quan VNCH như Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung
Tá Nguyễn Văn Châu; Thiếu Tá Trần Văn Đức, Đại Úy Nguyễn Quốc Trụ
... cùng những quân nhân thuộc Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù bị bắt ở mặt trận
Hạ Lào, tức Hành quân Lam Sơn 719, vào năm 1971, đã bị gạch bỏ
khỏi danh sách trao trả. Thật ra việc thi hành Hiệp Định Paris là
để người Hoa Kỳ cốt yếu cần mang về 588 tù binh và hoàn tất việc
rút quân ra khỏi Việt Nam trong "danh dự". Tuy vậy sự hào hùng của
người lính được ghi nhận vào những giờ phút lâm nguy nhất cho thấy
dù kết quả có chiến bại. Tác giả Nguyễn Vi Túy của bài viết "Ngã
Tư Bảy Hiền - Tháng Tư Đen" viết:

"Lúc ấy trời mới vừa
hừng sáng, những tiếng đạn pháo kích của Cộng quân bắt đầu nổ dồn
dập, với những tiếng đạn rít xé trời bay ngay trên đầu nghe đến
lạnh người. Đoàn người lánh nạn lũ lượt chạy vào thành phố ngày
một đông, và con lộ chính từ Ngã Tư Bảy Hiền dẫn vào sân bay Tân
Sơn Nhất và Sàigòn đã bắt đầu nổ ra các cuộc giao tranh đẫm máu.
Những người lính tử thủ trong bệnh viện Vì Dân đã có một lợi thế
vững chắc. Từ trên sân thượng họ đã phóng ra những trái hỏa tiễn
M-72 chống chiến xa một cách chính xác. Đã có ít nhất 3 xe tăng
T-54 của Cộng quân bị bắn cháy tại chốt phòng ngự này."
Trong quyển "Những Anh
Hùng Vị Quốc Vong Thân", tác giả Dương Viết Điền ghi nhận hai
trong số rất nhiều sự kiện tan thương nhưng can trường của người
lính VNCH như sau:
- Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam
(The Seven Samurai in VietNam): Theo tài liệu về ngày 30 tháng 4,
năm 1975 trong kho dữ liệu của hãng Thông tấn Nhật bản Kyodo ghi
nhận lại phút chót của những anh em Nhảy Dù. Khi giờ đau thương
đã diểm, ngày 30-04-1975, là lúc QLVNCH bị bức tử, người lính bị
bẻ gãy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người
lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một
bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh
dự khi tự kết liễu đời mình sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ
xếp thành vòng tròn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở
chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi vì danh
dự.
- Thiên thần Mũ Đỏ can
trường trong chiến bại:
Chuyện kể tang thương
thứ hai về sự hào hùng. Theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh
sát Nguyễn Văn Đình định cư ở Houston đã chứng kiến tại hiện
trường sự tự sát tập thể của 9 anh em quân nhân Nhảy Dù, họ nằm
trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình. Khi lệnh
buông súng ban ra toán quân nhân này đã xã súng bắn vào nhau, xác
thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng của người lính
QLVNCH, ví dụ hiển vinh cho sự kiện "can trường trong chiến bại".
Nhà văn Phan Nhật Nam có
tham dự vào show quay cho cuốn DVD Asia-58, mang chủ đề "Lá Thư Từ
Chiến Trường". Anh là một trong hai guest emcees, người kia là KHG
Dương Nguyệt Ánh, ngoài những Asia emcees nồng cốt như Nam Lộc,
Việt Dzũng, Thuỳ Dương. Anh cho biết anh rất vui khi tham dự trong một chương
trình vinh danh người lính VNCH. Tôi đồng ý vì sự can đảm của họ
khi bảo vệ quê hương của họ phải đáng ca ngợi.
Cuộc chiến đấu 20 năm
(1955-1975) mà vai trò của quân đội VNCH là bảo vệ an ninh bờ cõi,
bảo quốc an dân, gìn giữ xóm làng được an bình từ lúc khởi đầu
1955 đến phút cuối cùng của sự kiện "can trường trong chiến bại".
Trong biến cố 30 tháng Tư quân sử VNCH cũng đã ghi khắc sự tri ân
6 vị sĩ quan cao cấp dũng cảm đã tuẫn tiết như Phạm Văn Phú, Trần
Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Khoa Nam, và Lê Văn
Hưng.

Hôm quay phim Asia-58
tôi được xem hai MC Dương Nguyệt Ánh và Phan Nhật Nam giới thiệu
về trường hợp tướng Lê Văn Hưng. Theo phim tài liệu thì ông sinh
ngày 27 tháng 3 năm 1933 tại Hốc Môn. Tốt nghiệp hai quân trường
Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và Võ Bị Đà Lạt. Cấp bậc cuối cùng là Chuẩn
tướng, ông có 50 huy chương đủ loại, mà trong số đó có nhiều huy
chương cao quý. Chức vụ cuối là Tư lệnh phó Quân đoàn 4, trú đóng
tại Cần Thơ. Năm 1972, ông lập chiến công anh dũng tại An Lộc, sau
trận An Lộc nên được thăng cấp chuẩn tướng giữ chức tư lệnh phó
Quân khu 3. Năm 1973 Lê Văn Hưng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn
21 Bộ Binh; năm 1974, ông đảm nhận chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn
4. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ
của Quân đoàn 4, vì không chấp nhận đầu hàng địch quân, sau khi
nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt anh em binh sĩ bảo
vệ bộ chỉ huy, người được gọi là "Anh hùng tử thủ An Lộc" do những
chiến tích lẫy lừng một thuở tại mặt trận An Lộc đã tự sát bằng
súng lục vào lúc 20 giờ 45 tối.
Là chương trình văn nghệ
nên bản nhạc được xếp vào màn này là nhạc phẩm Người Chết Trở Về
của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, và qua hai giọng ca Nhật Trường
và Thanh Lan đã nhắc lại nét oai hùng của người, khi họ ra đi là
sự can đảm thương tâm.
Trong cuộc chiến 20 năm
đó thì trận tiến quân đánh sang Cam Bốt để phá hủy căn cứ hậu cần
của địch quân được xem là rất thành công. Cuối năm 1970 Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn III xử dụng ba Sư đoàn cơ hữu là 5, 18, 25 và 2 Liên
đoàn 3 và 5 Biệt Động Quân thay phiên nhau mở cuộc hành quân sang
lãnh thổ Kampuchia, phá tan hậu cần VC dọc theo biên giới: mật khu
Ba Thu, Mỏ Vẹt, Móc Câu. Đồng thời tiến sâu vào các tỉnh Svay
Rieng, Kompong Trach, Prey Vieng, tiếp cứu đồng bào VN thoát khỏi
cảnh nạn cáp duồng, đưa họ trở về VN định cư. Gần Tết các đơn vị
được rút về VN ăn Tết, đồng thời chuẩn bị cho cuộc hành quân quy
mô Toàn Thắng 1/71 trên lãnh thổ Kampuchia.
Trung tướng Đỗ Cao Trí
Tư lệnh Quân đoàn III đã chỉ huy tại mặt trận, ông quan sát từ
trực thăng bay trên không theo dỏi địa hình và điều khiển cuộc
hành quân. Ông chủ trương phải thanh toán để tiến nhanh đến mục
tiêu chính là đồn điều Chup, nơi ẩn náu của cục R, không để họ tẩu
thoát. Ông là một Napoleon mưu lược, và ông là một McArthur tài ba
về chiến trận.
Với tài thao lược chỉ
huy, khi đảm nhiệm chức Tư lệnh Vùng III Chiến Thuật chỉ trong một
thời gian ngắn, ông bình định xong nông thôn, và thực hiện các
cuộc hành quân tấn công hầu ngăn chận và tiêu diệt lực lượng đối
phương xâm nhập lãnh thổ miền Nam. Trận đánh phá hủy cục R bên Cam
Bốt là điển hình.
Tháng 3 năm 1970, Ông
bình định lãnh thổ Vùng 3 do ông phụ trách. Thực hiện cuộc "Hành
Quân Toàn Thắng 42", phối hợp với Lực Lượng II Dã Chiến Hoa Kỳ, để
lần lượt bứng tận gốc các chốt đóng quân của lực lượng Bắc Việt
dọc theo bên kia ranh giới Việt- Miên ở mật khu Mỏ Vẹt và Móc Câu,
càn quét địch quân đẩy lui cục R và các sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt
lên tận mạn Đông Bắc Cam Bốt ở vùng Đambe và Chlong. Tháng 2 năm
1971, ông dùng chiến thuật trực thăng vận Chiến Đoàn 5 Biệt Động
Quân cùng ông đổ quân xuống Chlong, cho quân tấn chiếm mật trận
Đambe, quân CS co rụm lại ở thế thủ. Theo kế hoạch tốc chiến tốc
thắng khi địch quân tháo chạy, ông mở cuộc "Hành Quân Toàn Thắng
1/71" tiến chiếm Kratié, căn cứ chiến lược chủ yếu của Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam. Vì khi chiếm được Kratié, chúng ta cắt đứt
con đường huyết mạch chính mà địch quân tiếp vận từ miền Bắc Việt
xuống tận vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kế hoạch thành công phá
hủy căn cứ hậu cần của địch quân.
Tướng Đỗ Cao Trí sinh
tại Biên Hòa vào ngày 20-11-1929, tốt nghiệp trường Võ Bị
Coetquidan, trường Nhảy Dù Pau ở Pháp năm 1949 và tốt nhiệp Trường
Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ ở Fort Leavenworth năm 1959.
Ông là vị Tư Lệnh Nhảy Dù đầu tiên của QLVNCH. Ngày 23 tháng 2 năm
1971 ông tử nạn vì trực thăng phát nổ trên không phận Tây Ninh,
sau đó ông được vinh thăng lên Đại tướng.
Để tưởng niệm sự mất mát
này chương trình Asia 58 cho trình bày nhạc phẩm Chân Trời Tím của
Trần Thiện Thanh với 2 ca sĩ Nguyên Khang và Ngọc Hạ.
Vị tướng thứ ba được đề cập đến trong Asia-58 là
tướng Nguyễn Viết Thanh, một vị tướng thanh liêm, chính trực, chỉ
huy giỏi, được binh sĩ, đồng bào cảm mến. Ông tốt nghiệp khóa 4
trường Võ Vị Đà Lạt, hầu hết các nhiệm sở ông đảm trách thuộc Vùng
III và Vùng IV Chiến thuật. Như ông phục vụ tại trường Sĩ Quan Trừ
Bị Thủ Đức, làm tỉnh trưởng Long An, Gò Công, sau này nắm chức Tư
lệnh Sư Đoàn 7. Cuối cùng ông được đôn lên Tư lệnh Quân Khu IV.
Trong cuộc
hành quân Toàn Thắng 42 sang Cam Bốt,
ông đưa quân yểm trợ tướng Đỗ Cao Trí từ Vùng IV. Vào tháng 5 năm
1970, máy bay chở ông chẳng may đụng phải chiếc trực thăng loại
Cobra của quân đội Hoa Kỳ khiến ông tử nạn.
Với Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu tin tưởng ở khả năng quân sự của ông. Tướng Westmoreland
đánh giá ông là vị tướng tài ba của QLVNCH.
Thiếu tướng George S. Eckhardt sau này nhắc chuyện
cũ cho phóng viên Hoa Kỳ nghe về tình quân dân cảm mến tướng
Thanh. Khi tướng Thanh làm Tư lênh Vùng IV, hai ông trong một
chuyến công tác chung, bay trực thăng ngang qua Mỹ Tho (nơi đặt Bộ
Tư Lệnh của Sư Đoàn 7 mà ông đóng trước đây), hai ông ghé vào tìm
một quán kín đáo để ăn trưa, nhưng khi đồng bào nghe tin tướng
Thanh ghé địa phưong của họ, dân làng và binh sĩ vây quanh ông
mừng rỡ, khiến ông bỏ bữa ăn trưa để bắt tay và chào hỏi bà con
đến kéo thăm. Tướng Eckhardt cho biết bên ngoài khả năng lãnh đạo
quân sự, tướng Thanh có đức tính đắc nhân tâm, thương mến người
dân. Trong gia đình ông còn có người em trai là Đại Tá Nguyễn Viết
Cần, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Ông
đã anh dũng hy sinh trong lúc thi hành nhiệm vụ giải vây An Lộc
vào mùa Hè năm 1972. Đại Tá Cần cũng từng được coi như một cấp chỉ
huy có tình nhân ái.
Vị tướng thứ Tư được Asia-58 vinh danh khi cho
chiếu tài liệu về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được xem là một trong
những vị tướng xuất sắc nhất về chiến trường trong hàng ngũ tướng
lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã phục vụ trong quân đội
từ năm 1954 đến 1975. Là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân
xâm lăng Cộng sản Bắc Việt, tái chiếm Quảng Trị vào năm 1972,
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, mang số quân:49/100.012. Ông sinh
ngày 13/12/1929 , tại tỉnh Kiến Hòa. Nhập ngũ ngày 17/11/1953 ,
tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức, tháng 6/1954. Ra trường
với cấp bậc Thiếu úy, được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 1,
Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Thành tích sáng chói của ông rất nhiều. Kể từ
năm 1970 ông được thăng cấp Trung tướng.
Trong cuộc hành quân Toàn Thắng 42 đánh sang Cam
Bốt, khởi sự ngày 2/5/1970, Quân đoàn IV đã phối hợp với Quân đoàn
III do Tướng Đổ Cao Trí chỉ huy, vượt biên giới Việt-Miên tiến vào
mật khu Ba Thu của Cộng sản Bắc Việt tại Mõ Vẹt. Thiếu tướng
Nguyễn Viết Thanh, tư lệnh Quân đoàn IV đã hy sinh vì tổ quốc
trong cuộc hành quân này. Do đó, Trung Tướng Trưởng được đưa sang
nhiệm chức Tư Lệnh Quân đoàn IV kiêm Tư lệnh Quân khu IV để thay
thế sự ra đi của Tướng Thanh. Ông giữ nhiệm vụ này mãi đến tháng
5/1972.
Vào năm 1972 của mặt trận Mùa hè đỏ lửa bùng nổ,
quân Cộng sản mở cuộc tấn công mãnh liệt vào Quân khu I. Lực lượng
của VNCH tại Quân khu I bị tổn thất nhiều tại tỉnh Quảng Trị .
Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động ra thay thế Trung Tướng
Hoàng Xuân Lãm, để giữ chức Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I.
Tướnh Trưởng có công mang lại niềm tin và những nổ lực cải tổ lực
lượng chiến đấu cho Quân khu I. Sư đoàn 1 Bộ Binh được cải cách để
bảo vệ tuyến địa đầu của quê hương. Ông chủ trương Quân khu I cần
được tăng phái với toàn bộ lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực VNCH
và được sự yểm trợ từ xa bởi Đệ Thất Hạm đội của Hoa Kỳ, chỉ trong
vòng một thời gian ngắn lực lượng VNCH đẩy lui quân CS và tái
chiếm Cổ Thành Quảng Trị, và tiến quân dành lại những phần lãnh
thổ ở phía Nam sông Mỹ Chánh, và Cửa Việt.
Chiến công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị đã gây
tiếng vang xa, Tướnh Trưởng được dư luận quốc tế cũng như trong
nước đáng giá rất cao, xem ông như một vị tướng tài ba thao lược
đầy hy vọng của Quân Lực VNCH. Bao nhiêu bút mực đã viết về
ông.
Trong biến cố đau thương năm 1975, người ta âm mưu
hãm hại, chặt tay chân của Quân Lực VNCH, những quyết định kỳ quái
đã làm cho một lực lương tinh nhuệ của miền Nam Việt Nam tan rã
nhanh chóng. Ông cùng gia đình được đưa sang Hoa Kỳ, định cư tại
tiểu bang Virginia , ông sống ẩn dật, kín đáo. Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng đã từ trần tại quận Fairfax , Virginia vào ngày 22
tháng Giêng, năm 2007.
Ông được xem là một trong 4 vị tướng thanh liêm,
trong sạch nhất của Quân Lực VNCH, qua câu nói: "Nhất Thắng
(Nguyễn Đức Thắng), nhì Chinh (Phan Trọng Chinh), tam Thanh
(Nguyễn Viết Thanh), tứ Trưởng (Ngô Quang Trưởng)". Chính đức tính
thanh liêm và khiêm tốn của ông đã làm cho binh sĩ và đồng bào
kính trọng và quý mến ông.
Trung Tướng (hồi hưu) John H. Cushman trở thành
người bạn thân với ông sau thời gian làm việc chung với Trung
Tướng Trưởng đã đưa ra nhận xét: "Không như những vị Tướng khác
làm giàu nhờ chức vụ, Trung Tướng không có lấy một bộ suit", và
gia đình ông sống rất thanh bạch, vợ Trung Tướng Trưởng vẫn nuôi
heo tại nhà, trong khu cư xá sĩ quan.
Ông thành công trong đời binh nghiệp có lẽ nhờ vào
các biện pháp cứng rắn, và sát cánh chiến đấu với binh sĩ ngoài
mặt trận. Ông thường xuyên thị sát các tiền đồn hẻo lánh, đầy nguy
hiểm.
Là một vị tướng thiên về tác chiến chuyên nghiệp,
ông chọn lựa không tham gia những hoạt động chính trị và tuyệt đối
trung thành với quân kỷ. Ông đã từng tuyên bố với mọi người về
quan niệm của mình: "Quân đội là quân đội và tôi chỉ nhận lệnh của
Tổng Tư lệnh Quân đội". Những câu chuyện được kệ về ông như ông
thường xuất hiện trong bộ quân phục tác chiến, áo giáp, nón sắt,
bình bi đông nước và cả một cái xẻng cá nhân, để làm gương cho
thuộc cấp. Đó là hình ảnh của vị Tướng Tư Lệnh Vùng, mà đặc biệt
đồng bào vùng I và IV, khó thể nào quên được.
Làm việc cực lực bảy ngày một tuần, dành hết tâm
huyết cho công vụ. Ông được tiếng thương mến thuộc cấp, chia sẽ
mọi lợi lộc nếu có, và thưởng phạt phânn minh.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là con rể của nhà văn
tiền chiến Thạch Lam. Do lời mời của Trung tâm Quân sử Quân lực
Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History), nhờ ông ghi lại
những kinh nghiệm chiến đấu qua 3 tác phẩm hiện còn lưu trữ tại
trung tâm này:
1/ The Easter Offensive of 1972 (viết 1983),
2/ Territorial Forces (viết 1984),
3/ RVANF and US Operational Cooperational
Coordination (viết 1984).
Nhận định về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, dư luận
Hoa Kỳ rất nể phục ông, theo Đại Tướng H. Norman Schwarzkopf,
nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội Đồng Minh
trong chiến dịch Bão Sa Mạc 1991, đã viết về Tướng Trưởng như là
người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà ông đã từng được biết.
Trong cuốn hồi ký viết năm 1992, Đại tướng
Schwarzkopf đã ca ngợi Tướng Trưởng như một anh hùng trong trận
đánh tại thung lũng Ia-Drang.Khi đó Tướng Trưởng là Trung Tá và
Tướng Schwarzkopf là Thiếu Tá Sĩ quan Cố vấn. Ia-Drang là trận thư
hùng thử lửa, trận đánh lớn đầu tiên và đẩm máu nhất giữa lực
lượng CSBV với lực lượng Bộ Binh Không Kỵ Hoa kỳ và sau đó với lực
lượng Nhảy Dù của Quân VNCH, vào tháng 11/1965. Khi quân xâm lăng
CSBV quyết định chuyển từ cuộc chiến tranh du kích sang chiến
tranh quy ước, tham chiến với cấp số tiểu đoàn và trung đoàn.
Trong trận giao tranh này, quân CSBV chuốt lấy thảm bại về số
thương vong.
Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1
Bộ Binh, trong quyển hồi ký "The Siege at Huế" đã viết: "Tướng
Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật, và hết lòng với binh
nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức
bằng quen biết hay đút lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công
tại mặt trận. Ông là nguời cần mẫn, thanh liêm, và không tự cao tự
đại. Dưới mắt người Mỹ thì ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi
nhất của quân đội Nam Việt Nam ." Nói chung thì dư luận Mỹ hầu như
dành cho ông sự thiệm cảm đặc biệt. Nhân khi được tin Tướng Trưởng
mạn phần, nhật báo Washington Post trong số ra ngày 25/01/2007 đã
viết những lời khen ngợi Trung Tướng Trưởng là một trong những
tướng thanh liêm và tài ba nhất của quân đội VNCH.
Tiến sĩ Sử gia Lewis Sorley, nguyên là Sĩ Quan
Thiết Giáp Hoa Kỳ, tốt nghiệp Võ Bị West Point, từng tiếp xúc với
Tướng Trưởng nhiều lần, đã nói là ông rất vinh dự được tiếp chuyện
với tướng Trưởng cách đây ít tuần, và rằng ông rất ngưỡng phục sự
can trường của tướng Trưởng khi chống chọi với căn bệnh lúc cuối
đời cũng như ông ngưỡng mộ bao nhiêu trận chiến hào hùng và tài
chỉ huy thao lược của Tướng Trưởng. Trong một email gởi đến những
người bạn đồng khóa của ông tại quân trường West Point , khóa 1956
để báo tin Trung Tướng Trưởng đã qua đời. Tiến sĩ Lewis Sorley đã
không quên nhắc nhỡ cho những bạn của ông nhớ là những lời nhận
xét và khen ngợi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và Sư đoàn I Bộ Binh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Tướng Creighton Abrams, vị Tư Lệnh
Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam từ những năm 1968 đến 1972. Tướng
Creighton Abrams đã từng tuyên bố là Tướng Trưởng, trong nhận định
của riêng ông, là một vị chỉ huy đầy khả năng chuyên nghiệp mà
quân đội VNCH có được trên chiến trường... Nói về tài chỉ huy khi
Tướng Trưởng coi Sư Đoàn I, Tướng Abrams đã nhận xét là Sư Đoàn I
là một đơn vị tinh nhuệ. Điều này chứng tỏ VNCH có một lực lượng
thiện chiến nhất... Và rồi Tiến sĩ Lewis Sorley đã viết cho những
bạn của ông lời cuối cùng chia tay: "Chào vĩnh biệt một trong
những chiến binh xuất chúng, một con người khiêm cung, đáng kính
và chính trực".
Kế tiếp gần đây khi biến cố cuối năm 2007, nhà cầm
quyền Trung Cộng công bố rằng Quốc Vụ Viện của họ xác nhận việc
thành lập thành phố hành chánh cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải
Nam, khiến người dân Việt Nam khắp nơi phẫn nộ vì quê hương tiếp
tục bị mất lãnh thổ và lãnh hải. Asia 58 cho chiếu một video clip
để làm sống lại sự hào hùng của Quân Lực VNCH. Hạm trưởng Ngụy Văn
Thà (1943–1974) được nhắc đến như lời vinh danh và tri ân.
Cố Trung tá HQ Việt Nam Cộng Hòa Ngụy Văn Thà là
Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10, ông cùng hai thuộc cấp pháo
thủ đã anh dũng chiến đấu với quân thù để giữ màu cờ sắc áo HQ
VNCH được ghi nhớ mãi.
Cố Trung Tá HQ VNCH Ngụy Văn Thà sinh ngày 16 tháng
1 năm 1943 Trảng Bàng, Tây Ninh. Ông tốt nghiệp khóa 12 Trường Sĩ
Quan Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tại Nha Trang, khóa Đệ Nhất
Song-Ngư, ngành Chỉ-Huy, tháng 03 năm 1964 với cấp bậc Thiếu-Uý.
Sau khi tốt nghiệp, ông thực tập trên Hải Vận Hạm LST-1166/MSS-2
Washtenaw County thuộc Hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Trong thời gian phục
vụ trên một số chiến hạm của Hạm đội Hải Quân Việt nam Cộng Hòa,
ông lần lượt đảm nhận các chức vụ:
- Hạm Phó Tuần Dương Hạm Ngô Quyền (HQ-17),
- Chỉ huy phó Giang đoàn 23 Vĩnh Long,
- Hạm trưởng Tuần-Duyên-Đĩnh Kèo Ngựa (HQ-604),
- Hạm trưởng Giang pháo hạm Tầm Sét (HQ-331), và
- Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ-10) từ ngày
16 tháng 9 năm 1973.
Ông được ân thưởng 13 huy chương đủ loại, trong số
đó có Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với
nhành dương liễu.
Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Hộ tống hạm Nhựt Tảo
(HQ-10) do ông chỉ huy đang tuần tiễu tại vùng biển Đà Nẵng thì
được lệnh hành quân trực chỉ Hoàng Sa, tiếp ứng hải đội VNCH đang
hành quân. Trong thời điểm này, HQ-10 bị hư một máy chính và radar
hải hành bất khiển dụng, tuy nhiên khi tham chiến HQ-10 đã chiến
đấu anh dũng nhất trong tất các chiến hạm hiện diện trong trận
đánh.
Tất cả chiến hạm VNCH đồng loạt khai hỏa vào chiến
hạm TQ lúc 10 giờ 22 phút sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974. Ngay từ
giây phút đầu giao tranh, sự kiện cho thấy HQ Trung Quốc bị trúng
đạn thiệt hại đáng kể, mặc dù tổng số tàu Trung Cộng tham chiến
hơn gấp 3 lần tàu của HQ VNCH. 12 chiến hạm của TC cùng nhiều ngư
thuyền giả dạng dân đánh cá. Trong khi phía VNCH chỉ có 4 chiếc
tàu gồm Khu trục hạm HQ 4, hai tuần dương hạm HQ 5 và HQ 16, và hộ
tống hạm Nhựt Tảo HQ 10. Tuy nhiên với tinh thần bất khuất quyết
chiến đấu. HQ VNCH đã khai hỏa và tấn công trước, gây ra thiệt hại
nặng nề cho hai chiến hạm của Trung Cộng là 271 và 274, mà trong
đó chiếc Kronstadt 271 được xem là tàu chỉ huy của bên địch quân.
Nhiều sĩ quan cao cấp cùng thủy thủ đoàn Trung Cộng có mặt trên
chiến hạm này đã bị tử thương.
Trong lúc giao tranh pháo tháp HO-10 bị trúng đạn,
làm hạm phó Đại úy Nguyễn Thành Trí bị thương nặng, tay lái bất
khiển dụng và HQ-10 cũng bị trôi dạt. Thấy chiến hạm bị hư hại
nặng, hạm trưởng Thà ra lệnh cho thủy thủ đoàn di tản bắng bè,
nhưng hai pháo thủ đã tự nguyện ở lại cùng ông tiếp tục chiến đấu.
Tới 11 giờ 49 phút, HQ Trung Cộng gửi thêm tàu vào vòng chiến yểm
trợ cuộc xâm lăng Hoàng Sa, 2 chiến hạm Trung Cộng mang số 281 và
282 được tăng phái vào đã tập trung hỏa lực bắn diệt HQ-10. Hộ
Tống Hạm Nhựt Tảo chìm cùng hạm trưởng và anh em pháo thủ ở lại
sống chết với tàu, ghi nhận HQ-10 khai tử tại địa điểm 2.5 hải-lý
về hướng Nam bãi san hô Antelope, lúc 14 giờ 52 phút ngày 19 tháng
1 năm 1974.
Thế hệ trước 75 đã chiến đấu vì lý tưởng tự do,
Asia trình bày cho thấy những người trẻ gốc Việt lớn lên tại hải
ngoại, họ nối gót thế hệ cha chú khoác áo chiến binh. Điều này nói
lên cá tính oai hùng của người Việt Nam . Nam nhi đi chiến đấu là
chuyện thường tình. Nhưng nữ nhi ra chiến trận lái may bay phản
lực có lẽ hiếm thấy với người Việt chúng ta. Người nữ anh hùng
mang dòng máu Triệu Trưng này không ai khác hơn là Đại úy phi công
Elizabeth Phạm, thuộc không đoàn "Bats 242" Yểm Trợ và Tấn Công
Dưới Mọi Thời Tiết của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, là ái nữ của
Bác Sĩ Phạm Văn Minh tại Seattle tiểu bang Washington. Liz Phạm
chào đời tại Seattle cách đây 29 năm, tốt nghiệp từ Đại Học USD
(University of San Diego) và theo học về kỷ thuật bay tại trường
huấn luyện phi hành T 34 của Hải Quân Hoa Kỳ tại Pensacola
(Florida) với cấp bậc Thiếu Úy. Sau đó, cô tiếp tục theo học về kỷ
thuật bay cấp cao T 45 Goshawk tại Trung tâm Huấn luyện Meridian
của Hải Quân Hoa Kỳ tại tiểu bang Mississippi. Tốt nghiệp,
Elizabeth Phạm đỗ "Top Hook" (Thủ Khoa) và được Đại Tướng Chỉ Huy
Trưởng đích thân trao bằng tốt nghiệp đồng thời được tuyển chọn là
Phi Công đầu tiên của Quân Chủng TQLC Hoa Kỳ điều khiển một phóng
pháo cơ siêu thanh F-18 Hornet vào cuối năm 2003 với cấp bậc là
Trung Úy. Năm 2005 Liz Phạm thăng Đại Úy. Cô thành hôn với Đại Úy
Alexander Roloss cũng là một sĩ quan Phi Công F-18 Hornet và tốt
nghiệp sau Liz Phạm một khóa huấn luyện, Đại Úy phu quân của Liz
Phạm cũng phục vụ trong cùng một đơn vị. Theo thân phụ của Đại Úy
Elizabeth Phạm cho biết thì cặp vợ chồng này như "Mặt Trăng và Mặt
Trời". Chồng từ chiến trường trở về Mỹ thì Vợ lại bay ra chiến
trường và khi Vợ về thì Chồng lại vút lên không trung bay đi Iraq.
Và khi show Asia khai diễn thì Đại Úy Elizabeth Phạm đang nghĩ
ngơi tại Mỹ và sẽ lên đường trở lại Iraq vào trung tuần tháng
01/2009 và Alex Roloss sẽ trở về Mỹ cùng thời gian đó.
Trên chiến trường Falujah ở mạn Bắc Baghdad, Iraq,
là một chiến trường mà không phận được mô tả là mỗi khi lực lượng
bộ binh chạm địch thì hàng loạt máy bay đủ các loại của quân đội
Hoa Kỳ xuất hiện trên bầu trời từng lớp, từng lớp từ trên cao nhìn
xuống "như một đàn ong" đang dang cánh bay lượn trên không trung,
từ tuốt trên cao độ rồi nó lao sầm xuống với một tốc độ kinh hồn
là 1190 Miles một giờ hay 2380 cây số giờ để thả một quả bom chỉ
cách vị trí của các đơn vị bạn chỉ có 200 mét rồi vụt bay ngược
theo tốc độ vút lên cao mất hút trong không gian. Hình ảnh này mô
tả được những phi công điều khiển các phóng pháo cơ F-18 Hornet
tối tân của Hoa Kỳ là những tài năng ưu tú của đất nước. Điều cần
ghi nhận là trị giá mỗi chiếc F-18 là 35 triệu mỹ kim, và Đại Úy
Elizabeth Phạm luôn góp mặt trong các thành phần phi công ưu tú
đó.
Quốc hội Hoa Kỳ đã từng tranh cãi nên hay không nên
để phụ nữ tham dự trong các công tác chiến đấu. Có những khó khăn
tế nhị cho phụ nữ khi ra mặt trận. Quá khứ cho thấy nước Mỹ nhức
nhối tại chiến trường tại Iraq hay Bosnia mỗi khi máy bay bị bắn
rơi.
Ngày 02 tháng 5 năm1995 Đại Úy Không Quân Hoa Kỳ
Scott O’Grady điều khiển một oanh tạc cơ siêu thanh F-16 bị hỏa
tiển SA-6 Địa-Không của địch quân bắn rơi trên bầu trời Bosnia.
Đại Úy O’Grady bung dù thoát ra khỏi máy bay và rơi xuống trong
một khu rừng rậm dày đặc địch quân đang săn lùng lục soát khu vực
để tìm bắt. O’Grady phải lẫn trốn đến 6 ngày dài trong các bụi rậm
và sống trong lo âu đói khát. Đại Tá TQLC Hoa Kỳ Martin Berndt
mang sứ mang đi tìm và giải cứu cho O’Grady đã dẫn 40 binh sĩ,
không ngại nan nguy với hai chiếc trực thăng H-53 cất cánh từ một
căn cứ ở Ý bay đến Bosnia hạ cánh ngay trên đầu địch quân, đúng
vào lúc mà O’Grady đang lẫn trốn và bốc ngay O’Grady trong vòng 4
phút và bình yên bay trở về Ý. Sự nguy hiểm như vậy nếu là phụ nữ
thì vấn đề sẽ phức tạp hơn.
Trong sự gian nguy của mỗi công tác bay chiến đấu,
người phi công như Elizabeth Phạm hay các bạn sẽ phải thử thách
với không gian, với những nguy hiểm của phi vụ. F-18 bay với vận
tốc 2,380 cây số giờ để lao mình xuống ném bom ở Iraq, rồi trở về
với hàng chục lỗ đạn xuyên thủng thân máy bay, còn 2 cánh thì nứt
ra từng mãnh gần như sắp gãy lìa. Do đó bạn bè tặng cho cô biệt
danh là "The Miracle Woman" khi bay trở về căn cứ an toàn từ cõi
chết.
Asia-58 mang tựa đề "Lá Thư Từ Chiến Trường" chứa
đựng một nội dung tình cảm của người chiến sĩ qua nhiều bức thư cũ
tiêu biểu cho cả một quá khứ đầy hào hùng, cũng như đầy tình cảm
nhân bản của những chinh nhân nơi xa trường. Tôi nghe những lá thư
nồng nàn của chiến sĩ như Hải Quân Hoàng Đình Báu, của chiến sĩ
Nhảy Dù Nguyễn Văn Ngôn, của chiến sĩ BĐQ Phan Huy Mộng, của chiến
sĩ Trần Quang Thâu, của cô Diệu tại Phước Tuy, của các em gái hậu
phương như Minh Hiếu, Thanh Tuyền, Phương Dung, hoặc Phương Hồng
Quế, của Bà Mẹ Kim Nguyễn, của Thomas Thọ Nguyễn, của một khóa
sinh tên Thạch gửi từ quân trường,...
DVD Asia-58 ra đời vào dịp 30 tháng Tư, 33 năm sau
kể từ 1975, nhằm mục đích vinh danh người chiến sĩ oai hùng của QL
VNCH, chúng ta không quên ơn của những chiến sĩ Dù Hoàng Văn Thái
và các dồng đội của anh, như Ngụy Văn Thà và các chiến hữu của anh
đến những hình ảnh của các vị tướng lãnh anh dũng Đỗ Cao Trí,
Nguyễn Viết Thanh, Lê văn Hưng và Ngô Quang Trưởng. Những hình ảnh
này tiêu biểu cho hàng triệu chiến sĩ của chúng ta ngày xưa.
Nhà văn nghiên cứu về quân sử VNCH Phạm Phong Dinh
cho là Asia-58 ra đời rất cần thiết trong bối cảnh hiện tại khi
lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam tiếp tục mất dần vào tay ngoại bang,
vì chính những người CSVN đã tạo ra những sự kiện như vậy. Người
dân VNCH lưu luyến với ngày vùng dậy từ Huế, Sài Gòn, Quảng
Trị,... hâm nóng những ước mơ một ngày quật khởi đạp đổ những áp
bức, những độc tài đang đè nén nhân dân.
Nhà văn Dương Viết Điền, một sĩ quan HO thuộc ngành
Chiến tranh Chính trị thì cho là Trung tâm Asia đang đảm nhận công
việc cần thiết của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị VNCH ngày xưa.
Xét cho cùng thì tuổi trẻ Việt Nam Cộng Hòa trước
1975 hiến thân cho Tổ Quốc hay các hậu duệ ngày nay tiếp tục xả
thân chiến đấu cho ý nghĩa tự do và dân chủ. Hàng triệu thanh niên
của QLVNCH và các thế hệ trẻ tiếp nối đứng lên đáp lời sông núi,
và ước mong là quê hương Viẹt Nam sớm thật sự có tự do dân chủ và
thái hòa.
ĐÁP LỜI SÔNG NÚI
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hưng Đạo Vương, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm, chưa một lần khuất phục ngoại xâm.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
Quyết bảo vệ giang san, từng tấc đất, từng cây cỏ,
Từng phố phường, từng con đường, từng bờ biển quê hương.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san ta thà chết cho quê hương.
Đây muôn triệu con tim, đây muôn triệu khối óc,
Cùng giòng máu Việt Nam.
Đây Hai Bà Trưng, đây Lý Lê Trần,
Bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.
Tổ quốc lâm nguy, xương máu này ta nguyện hiến dâng.
Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi,
Quyết bảo vệ giang san, ta thà chết cho quê hương.
VIỆT NAM, VIỆT NAM, VIỆT NAM .....
(Trúc Hồ ©2008 )
Việt Hải/Dương Hà
(*):Xin cám ơn ký giả
Nguyễn Tấn Lai về tài liệu phi công Elizabeth Phạm và nhà văn Phạm
Phong Dinh cung cấp những sử liệu trong bài.