TRANG NHÀ VIỆT HẢI . LA                                                                        Tuesday September 05, 2006
 
 Trở về trang chính

 Viễn Xứ magazine
 
Văn Đàn ĐồngTâm
 
 Cali Weekly Online
 
  
T
ake2tango.com

      Saigon Time
 

 ASIA

Asia-51:
Nhạc Vàng 30 Năm,
 T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến


Tạ Ơn Anh "Người Thương Binh VNCH
 
Nhật Trường-Trần Thiện Thanh

Vinh Danh Nhật Trường Trần Thiện Thanh
 


Nam Lộc - Xin Đời Một Nụ Cười

(trích đăng từ Take2Tango.com)

 

 

"Tôi làm nhạc trước hết là để thỏa măn nhu cầu tâm hồn, ngợi ca t́nh yêu, vỗ về cuộc đời và an ủi thân phận của chính ḿnh, v́ thế mọi chuyện sau đó đều được xem là những phần thưởng không mong đợi.”, Nam Lộc.

“Tôi bước đi khi Saigon trong cơn hấp hối.
Như một người t́nh phụ thở hơi cuối cùng.
Tôi bước đi Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời,
Khu thương xá cửa khép cuộc đời,
Những con tầu ngơ ngác ra khơi..."

 

 

Tôi lắng nghe nhạc phẩm thứ 11 trong dĩa CD "Sài G̣n ơi, Vĩnh biệt" với nỗi buồn vơi, với tâm trạng thổn thức xót xa khi ly hương, v́ nó nhắc nhở những kỷ niệm thương đau khi bước xuống tàu rời Sài G̣n thân yêu với bao ngậm ngùi, bao quyến luyến, và bao tiếc thương v́ hồn tôi hoang mang vương vấn với Sài G̣n. Bản nhạc "Xin đời một nụ cười" đang vang lên trong căn pḥng của tôi qua ba tiếng hát Khánh Ly, Thế Sơn và Trần Thái Ḥa, có lẽ nó không chỉ làm tác giả xúc động không mà thôi khi anh miệt mài trau chuốt từng câu văn hay từng tiết tấu của nốt nhạc, nó c̣n làm tim tôi rung động v́ nhạc, v́ lời và cũng v́ những giọng ca tuyệt vời chuyên chở những ư tưởng của tác giả làm tôi gợi nhớ Sài G̣n xưa hơn.

 

 

"Tôi bước đi qua đường rừng chông gai tăm tối.
Như cuộc đời ở lại từ khi mất người.
Tôi bước đi như con rết lê lết cuộc đời,
Như thân bướm đôi cánh ră rời,
Lấy u sầu che dấu tả tơi..."


Đă từ lâu rồi tôi muốn có một bài viết ghi nhận những cảm quan của ḿnh về nghệ sĩ Nam Lộc v́ những bài nhạc do anh làm. Phải nói rằng nhạc anh làm không nhiều như nhiều người sáng tác tại hải ngoại. Tôi có quen những thân hữu có số lượng nhạc khá nhiều, có người hơn 300 bài nhạc, hay người được hơn 500 bài, nhưng họ chưa có cái may mắn để đẩy nhạc họ lên cao. Với anh Nam Lộc lượng có lẽ ở hàng chục mà thôi, tuy nhiên hầu hết những nhạc phẩm do anh sáng tác được công chúng đón nhận thật nồng hậu. Tôi ví dụ như các bài trước biến cố 75 như "Chỉ c̣n là giấc mơ qua", "Anh đă quên mùa thu" hay "Trưng Vương khung cửa mùa thu" rồi đến những sáng tác sau năm 75 như "Sài G̣n ơi, vĩnh biệt", "Người di tản buồn" hay "Xin đời một nụ cười".

Tôi biết đến tên anh lần đầu khi anh soạn lời Việt bài "Yellow Bird", viết bởi các nhạc sĩ Mariln Keith, Alan Bergman và Norman Loboff theo âm điệu rumba du dương của hải đảo Jamaica, thuộc vùng nhiệt đới Caribbean, bài nhạc ra đời năm 1957, để rồi anh cho Việt hóa lời nguyên thủy Anh ngữ nói về nàng két hoàng vũ bay nhảy đu đưa trên cành chuối, rồi chim bay mất hút như cô bạn gái hẹn ḥ để rồi không đến để người bạn trai ḷng buồn sầu vơi. Bài ca này được chuyển ngữ qua lời Việt rất dễ thương dưới tên "Chỉ c̣n là giấc mơ qua", lời mang ư t́nh tự xao xuyến khi được anh Nam Lộc biến dạng qua lời nhớ nhung, bâng khuâng mộng ḷng trong phút giây chờ đợi hẹn ḥ người yêu, như mùa t́nh yêu đang đến, những lưu luyến khi nh́n người bạn gái dáng e ấp dưới ánh nắng hanh vàng đón nàng trước cổng trường.

“Như làn mây, t́nh yêu thôi, giờ đây lững lờ
Như làn gió, t́nh yêu thôi giờ đây hững hờ.
Rồi một lần xa cách là một đời than trách
Rồi cuộc t́nh bay mất và một người đi khuất
T́nh chỉ c̣n cay đắng đời chỉ c̣n xa vắng
Và chỉ c̣n nắng vương cuối đường…”

 

Năm 1973 tôi nghe tape nhạc trẻ có bài này trong tâm tư say mê, nghe đi nghe lại cả chục lần và rồi tập hát cho cô bạn gái tôi nghe trong những lần picnic hay du ngoạn tại Lái Thiêu, Biên Ḥa hay Long Hải. Tôi gặp tác giả bài hát này vài lần khi anh cùng anh Joe Marcel vào cư xá Bạch Đằng, gần góc đường Lê Thánh Tôn và Cường Để, khi ghé thăm gia đ́nh trung tá Ninh HQ, v́ ông là anh rể của anh Joe Marcel. Tôi có nhắn anh Nam Lộc là tôi rất thích bài "Chỉ c̣n là giấc mơ qua" do anh chuyển ra lời Việt.

 

 

“Thương người thương, ngàn xưa ơi, ngàn sau nét cười
Vương sầu vương, đường xưa nay giờ đâu bóng người.
T́nh lịm màu tan vỡ ḷng chỉ c̣n nhung nhớ
Giờ một ḿnh quên lăng lạnh lùng theo năm tháng
Dù một lần em đă mềm ḷng như chiếc lá
Là một lần xóa dấu đớn đau…”


Đời sống có thuở đi học, có thuở hẹn ḥ chờ em trước cổng trường như nhạc phẩm "Bên Nhau Ngày Vui" của Quốc Dũng, như "Chuyện Hẹn Ḥ" của Trần Thiện Thanh, như "Em Cứ Hẹn" của Hoàng Thanh Tâm hay nhạc phẩm của Nam Lộc vang vọng những ngày xưa thân ái rót hồn ḿnh ngân nga qua lời ca tiếng hát:

”Em nhớ ngày, anh đón em góc trường
E ấp, thẹn thùng, vấn vương
Em nhớ ngày, anh đón em cuối đường
Dù đường loang vết nắng nắng vẫn lung linh màu…”


Nam Lộc bước vào làng âm nhạc như thế nào? Phần dưới đây xin tŕnh bày cái duyên văn nghệ đưa đẩy anh vào những thành công nối tiếp như một người sáng tác nhạc chỉ v́ nguồn cảm hứng của nghiệp dĩ đam mê âm nhạc.

Nam Lộc và Phong Trào Nhạc Trẻ:

Tôi đọc bài viết cũ của anh Trường Kỳ, một người bạn thân thiết của anh Nam Lộc (NL) mà trong phong trào nhạc trẻ khi xưa tên hai anh gắn bó như bóng với h́nh khi tung hoành trên sân khấu nhạc trẻ Sài G̣n, cái tên quen thuộc Trường Kỳ - Nam Lộc, anh Trường Kỳ (TK) cho biết là:

“Lộc cũng đă có ít nhiều sinh hoạt cùng quen biết với những nghệ sĩ trong giới du ca và t́nh ca mà không có một liên hệ nào với phong trào nhạc trẻ, bắt đầu hiện diện ở Việt Nam từ đầu thập niên 60. Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Miên Đức Thắng, v.v...là những người anh thường gặp gỡ trong thời kỳ có sự xuất hiện của quán Văn. Đó là một địa điểm sinh hoạt văn nghệ nổi tiếng một thời và cũng là nơi những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn bắt đầu chinh phục giới trẻ yêu nhạc qua tiếng hát của “Nữ Hoàng Chân Đất” Khánh Ly. Sau khi quán Văn đóng cửa, với một đầu óc bén nhậy để nh́n thấy được chiều hướng thưởng thức nơi lớp khán giả trẻ yêu nhạc, Lộc quyết định khai thác tiệm cà phê Quán Gió với mục đích để Khánh Ly và Trịnh Công Sơn có địa điểm phổ biến tác phẩm và giọng ca của ḿnh. Nhưng không khí của quán Văn ngoài trời ngày nào đă không có thể t́m thấy được nơi Quán Gió. Khách đến đây thích ngồi nhâm nhi bên ly cà phê giữa bốn bức tường trong ánh sáng mù mờ hơn là nhất thiết chỉ để nghe nhạc. Dự định của Lộc v́ vậy không thành, dù Trịnh Công Sơn từng đôi lần hát trước khán giả Quán Gió trong những lần tổ chức bỏ túi rất giới hạn người nghe. Tuy nhiên Quán Gió cũng tạo cho ḿnh một thế đứng đặc biệt với những buổi tổ chức văn nghệ trong bầu không khí thân mật và ấm cúng với những nghệ sĩ từng tới đây sinh hoạt như Từ Công Phụng, Khánh Ly, Miên Đức Thắng, vv...”. Anh TK viết tiếp là:

“Sau khi quyết định đến với phong trào Nhạc Trẻ, Lộc cảm thấy có nhiều gần gũi để dần dần đi vào hoạt động một cách tích cực sau đó ”tại v́ thực sự là trước khi gặp ông, tôi đâu có một người bạn thân nào đâu. Tôi có nhiều bạn nhưng không có bạn thân. Gặp ông th́ hai đưá như có một sự tâm đầu, nó hợp nhau .Hợp nhau từ cách sống, hợp nhau từ cách nói chuyện , gặp nhau từ cách sinh hoạt thành ra nó hợp “gu”. Thành ra tôi lên sinh hoạt với ông nhiều”, như lời Nam Lốc tâm sự với tôi. Phần tôi, nhận thấy nơi Lộc là một con người nhanh nhẹn, ăn nói khéo léo với nhiều sáng kiến nên tin tưởng anh là một người sẽ cùng với ḿnh và Tùng Giang – quen với tôi 2 năm trước đó – góp sức để phát triển phong trào nhạc trẻ. Từ khi quen biết, Lộc thường xuyên tham dự những chương tŕnh nhạc trẻ do tôi tổ chức ở vũ trường “Chez Jo Marcel” ( sau đó đổi tên thành “Đêm Mầu Hồng” ), rồi tới Queen Bee. Một lần bận việc bất ngờ trong lúc chương tŕnh “Hippies À Gogo” đang diễn ra, tôi đă dúi “micro” vào tay Lộc để nhờ anh thay thế công việc giới thiệu chương tŕnh. Dù không sửa soạn trước, nhưng Lộc đă ứng biến rất nhanh để hoàn thành một việc đầu tiên trong đời rất suông sẻ. Sự kiện này khởi đầu cho nghề MC của anh tại hải ngoại sau này. Thời gian kế tiếp, thỉnh thoảng Lộc vẫn lên sân khấu giới thiệu những ban nhạc tŕnh diễn tại “Hippies À Gogo” với nhiều thích thú. Không đầy một năm sau, Khánh Ly đứng ra khai thác chương tŕnh ca nhạc tại vũ trường Queen Bee và mời Lộc ở lại thực hiện một chương tŕnh nhạc trẻ hàng tuần, trong khi tôi dời chương tŕnh của ḿnh về vũ trường Ritz do Jo Marcel khai thác trên đường Trần Hưng Đạo. Dưới mắt mọi người, đây là hai chương tŕnh “cạnh tranh” với nhau, nhưng thực tế chúng tôi vẫn trao đổi những ban nhạc tŕnh diễn cho cả hai chương tŕnh với số lượng khán giả trẻ luôn luôn đông đảo tại cả hai nơi. Từ đó có thể coi Nam Lộc chính thức đến với phong trào Nhạc Trẻ và luôn sát cánh với Jo Marcel, Tùng Giang và tôi trong mọi tổ chức với nhạc trẻ giữ vai tṛ nồng cốt. Chẳng hạn như những cuốn phim về Nhạc Trẻ do Nhóm Jo Marcel thực hiện như “Thế Giới Nhạc Trẻ” và “Vết Chân Hoang” mà Lộc cũng góp không ít công sức. Đối với giới Nhạc Trẻ, tên tuổi Nam Lộc đă trở nên quen thuộc và tạo được khá nhiều uy tín.”

Dấn Thân Vào Âm Nhạc Đóng Góp Cho Xă Hội:

Bài viết của anh TK c̣n đề cập đến cơ hội mà NL dấn thân vào công tác xă hội: “Đặc biệt hơn cả là những chương tŕnh Đại Hội Nhạc Trẻ Taberd, Đại Hội Nhạc Trẻ Hoa Lư, Thảo Cầm Viên, vv... Ḷng hăng say hoạt động xă hội của Lộc đă có dịp bộc phát rơ rệt trong những tổ chức mang mục đích từ thiện này với tất cả nhiệt t́nh.

Theo anh, giới trẻ trong thời chiến có một cái nh́n lệch lạc cho nên muốn tạo cho họ sự gần gũi với cộng đồng không ǵ bằng dùng phương tiện âm nhạc qua việc tổ chức những đại hội nhạc trẻ. Qua đó, rơ ràng là giới trẻ và giới nhạc trẻ đă có những đóng góp tích cực về mặt xă hội. Với tính cách bất vụ lợi của nó, những Đại Hội Nhạc Trẻ trước kia ở Việt Nam đối với anh là những buổi gây quỹ được hưởng ứng đông đảo nhất, hơn bất cứ một cuộc gây quỹ nào khác.”

Nam Lộc và Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ:

Như VH nói sơ qua ở phần trên từ năm 1972, nhạc sĩ Nam Lộc cũng là một trong những người tích cực nhất đối với phong trào Việt hoá nhạc ngoại quốc bằng cách viết lời Việt cho những ca khúc thịnh hành từ các ngôn ngữ Anh, Pháp và Hoa. Sự đóng góp của anh nằm trong quan niệm muốn tạo điều kiện cho giới trẻ về nguồn và gần gũi với tâm t́nh và ngôn ngữ của người Việt hơn qua những lời ca hoàn toàn bằng tiếng Việt. Đối với anh phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ cũng nằm trong niềm thao thức về mặt xă hội mà anh ấp ủ. Trong phạm vi này, NL đă phát triển ư nhạc vượt bực trong tâm hồn yêu mến văn nghệ của ḿnh, mặc dù anh không phải là một nhạc sĩ chuyên nghiệp chính thức khi ấy, chưa bao giờ anh thực thụ học lư thuyết nhạc hẳn ḥi từ các trường lớp huấn luyện chuyên nghiệp, ngoài việc học hỏi lóm nơi bạn bè để có thể sử dụng guitar một cách đơn sơ đủ hiểu căn bản cách ghép nhạc. Thuở ban đầu ấy, NL góp ư về giai điệu và viết lời cho nhạc phẩm “Anh Đă Quên Mùa Thu” cùng với nhạc sĩ Tùng Giang. Sau đó là nhiều nhạc phẩm ngoại quốc được anh chuyển sang lời Việt bằng cách dựa trên giai điệu của nhạc phẩm chính mà anh rung cảm, đặc điểm là anh hoàn toàn không quan tâm đến phần nội dung lời ngoại ngữ như các bài Dĩ Văng Buồn (I’ll Never Fall In Love Again), Phút Bên Em (L’Amour Avec Toi), Ḍng Đời (My Way), T́nh Ca Cho Em (Goodbye To Love), Như Mùa Thu Lá Bay (Ben), Mây Lang Thang (A Cowboy’s Work Is Never Done), Một Thời Để Yêu (Les Amoureux Qui Passent), Chỉ Là Giấc Mơ Qua (Yellow Bird), v.v... Lư do rất dễ hiểu là vốn liếng sinh ngữ của anh khi đó tương đối không nhiều lắm như anh cho biết.

Tuy vậy, nét đặc sắc trong cách viết lời Việt của NL phải nói là ở nghệ thuật phô diễn cách dùng chữ vô cùng sâu sắc và khéo léo khiến người nghe quên hẳn nguồn gốc nhạc ngoại quốc của nhạc phẩm đă được hoàn toàn Việt hoá như chủ trương của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Điển h́nh là hai nhạc phẩm “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” và "Chỉ C̣n Là Giấc Mơ Qua", tôi nghe mà cứ ngỡ là nhạc Việt nguyên thủy được sáng tác. Nếu ai chỉ nghe qua mà chẳng màng t́m hiểu về nguồn gốc của bài nhạc th́ NL được luôn music credit vậy. “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” chính là nhạc phẩm “Tell Laura I Love Her “ với thanh âm rất ăn khớp hay giai điệu rất thích hợp cho lời ca bằng tiếng Việt, hoàn toàn khác biệt với nội dung của bài nhạc Mỹ nguyên thủy:

“Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
T́nh trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh

Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày
Những ngày đợi chờ
Đợi người qua cơn mơ
Trong nắng vu vơ
Trong mắt ngây thơ

Nhớ khói bay lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làm mây yêu thương
Vướng trong hồn em..."


Lời bài ca chan ḥa bao yêu thương, đầy vấn vương nhẹ nhàng mà tôi cứ ngỡ tác giả NL nói thay cho người nào đó của sân trường Trưng Vương, cái linh cảm của tôi có thể đúng hoặc sai, nhưng bài ca này đă làm xao xuyến nhiều con tim Trưng Vương lắm, theo sự suy diễn của tôi.
 

"Người mang cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm
T́nh cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy

Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời
Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời
Bóng người th́ mịt mùng
Từng hàng me rung rung
Trong cơn gió lạnh lùng
Trong nắng ngại ngùng

Nắng vấn vương nhẹ gót chân
Trưng Vương vắng xa anh dần
Mùa thu đă qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng
Lá rơi đầy sân...

Nhớ khói bay lạc vấn vương
Nhớ khói bay lạc vấn vương
Nhớ khói bay lạc vấn vương..."

Vâng, đó là nhạc soạn lời của NL và anh thố lộ là anh rất ưng ư với bài “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” khi nh́n về kỷ niệm của thuở xa xưa ch́m sâu trong dĩ văng hay của cái thuở học tṛ mộng mị có “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” và "Chỉ C̣n Là Giấc Mơ Qua", đón em trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm với hàng cây sao cao vút, rồi tất cả đă qua đi hay c̣n lại chăng hôm nay là hai nhạc phẩm lay động tim anh hay rất nhiều người chia chung cái thế hệ đáng yêu của Sài G̣n năm xưa. Em gái tôi theo học trường Trưng Vương và nhà tôi gần trường Saint Paul, không xa Trương Vương là bao, khi những người học tṛ nam đảo xe gắn máy qua khu vực Hội Việt Mỹ, Trung Tâm Văn Hóa Pháp, trường Saint Paul và ṿng về Trưng Vương mà ḷng mang theo ư nhạc của Nam Lộc ngày xưa.


Đôi Ḍng Về Tiểu Sử:


Anh có tên thật là Nguyễn Nam Lộc, sinh năm 1944 tại Bắc Ninh, v́ khi thân phụ anh là một sĩ quan trong quân đội Pháp được thuyên chuyển về đây, nên là sinh quán của anh. Hai năm sau khi chào đời, gia đ́nh anh dời ra Hà Nội. Anh là người con thứ hai trong một gia đ́nh có 11 người, 7 gái và 4 trai. Tại Hà Nội, anh theo học tại trường tiểu học Nguyễn Du như kư ức anh thuật lại cho tôi nghe. Khi CS về thành tạo ra chuyến di cư vĩ đại từ bắc vào nam, anh theo gia đ́nh xuôi nam khi lên 10 và đầu tiên theo học trường Hùng Vương tại Sài G̣n.

 

 

Sau đó anh chuyển sang theo học các trường Hưng Đạo, Nguyễn Bá Ṭng, Nguyễn Trăi và cuối cùng là Chu Văn An trong những năm cuối của bậc trung học. Lư ra anh đă xong bậc trung học vào năm 1963, nhưng cũng v́ quá say mê văn nghệ như năng khiếu, nên anh chậm mất một năm cho Tú Tài phần 2. Từ khi đi học anh tham gia hoạt động văn nghệ, thực hiện bích báo hay giai phẩm Xuân cho trường mà anh cảm thấy thích thú. Ngoài ra anh cho biết anh đă dấn thân vào những lần đi lạc quyên ủy lạo, giúp đỡ cho những mục đích xă hội từ thiện trong khung cảnh học đường.

Với bản tính thích công bằng lẽ phải, thích tranh luận, nên sau bậc trung học anh chọn ngành luật khoa. Nhưng trường Luật đến với anh chỉ được vỏn vẹn một năm. Với khả năng thiên phú về văn chương anh c̣n học tại phân khoa Văn khoa.

 

Gia Nhập Quân Đội VNCH:

Trước t́nh thế đất nước đ̣i hỏi, anh gia nhập vào quân ngũ và được biệt phái về phục vụ trong ban báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chi tiết mà tôi tham khảo thêm bài viết của anh TK:

“Mặc dù cùng đi tŕnh diện sĩ qua Thủ Đức với Vũ Thành An vào năm 1968, nhưng măi đến năm 1972 Nam Lộc mới chính thức bước vào đời sống quân ngũ trong ban báo chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Phục vu ở đây khoảng một năm, anh được thuyên chuyển về ban báo chí Quân Đoàn 3 ở Biên Hoà cũng vào khoảng một năm, cho đến biến cố tháng 4 năm 75. Lộc cho biết anh rất thích ngành báo chí v́ nhận thấy có khiếu viết văn từ thời kỳ trung học. Tuy nhiên khả năng viết báo của anh chưa được biết đến mặc dù từng viết một số phóng sự chiến trường.
 

Lộc được cử về Sài G̣n công tác trong những ngày sôi sục nhất của tháng 4 năm 75. Anh được phụ tá tổng trưởng kế hoạch thời đó rủ vào phi trường Tân Sơn Nhất chiều 25 tháng 4 để nghe ngóng t́nh h́nh. Lộc xách theo một túi nhỏ, trong đó chứa cả trăm tấm h́nh thu góp được trong những năm sinh hoạt nhạc trẻ, vài chục Mỹ Kim và một chai nước hoa gần cạn! Gia tài của anh chỉ vỏn vẹn có vậy, trong khi c̣n mang ư định sẽ quay về nhà để cùng đi với gia đ́nh. Vào đêm 25 tháng 4, Lộc một ḿnh lang thang trong phi trường Tân Sơn Nhất để nhận diện t́nh h́nh. Anh lần ṃ trong hồi hộp đến tận nơi lên máy bay, tức chặng cuối cùng của những người đă hoàn tất nhiều thủ tục. Định mệnh đưa đầy anh gặp Đức Huy, đă vào trong phi trường từ mấy ngày trước với sự giúp đỡ của một người bạn thân người Mỹ để làm công việc đọc danh sách những người được lên máy bay. V́ đă quá mệt mỏi với công việc luôn bận rộn trong t́nh trạng căng thẳng này, Đức Huy nhờ Lộc tiếp tục công việc này để chia tay lên đường sang Mỹ trước. Nhờ gặp may mắn, Lộc đă lên máy bay rời Sài G̣n vào ngày 27 tháng 4 năm 75 trong khi gia đ́nh anh vẫn c̣n kẹt lại. Chỉ riêng thân phụ anh được di tản theo tầu Trường Xuân cho đến 4, 5 năm sau tất cả mới được đoàn tụ tại Mỹ.”

Rời xứ ra đi NL như áng "Mây Lang Thang" bềnh bồng trôi nổi như khúc nhạc anh chuyển lời Việt:

"Mây, sao c̣n bay măi không quay về đây ?
Sao c̣n lờ lững che ngang rừng cây
Sao c̣n hờ hững với tôi từng giây
Hay c̣n mơ nghĩ đến ai nào đây"

 

Mây trôi theo gịng đời ly hương như tựa đề nhạc phẩm mà một thuở ban nhạc CBC qua giọng ca nồng nàn của Bích Loan đă tạo nên những thanh âm thịnh hành tại Sài G̣n của ngày cũ:

“Mây, mây c̣n phiêu lăng đến bao giờ đây ?
Mây c̣n ngơ ngác lang thang về đâu ?
Hăy dừng chân nói với tôi một câu
Xin đừng câm nín với nhau dài lâu"

“Sài G̣n Ơi Vĩnh Biệt" ra đời:

Người viết bài có dịp tṛ chuyện với nhạc sĩ dương cầm Hồ Xuân Mai (HXM), v́ anh ở khá gần nhà tôi tại vùng San Fernando Valley, anh được người bảo trợ tại Hollywood vốn là cựu quân nhân phục vụ tại Việt Nam nâng đỡ, ông M.B. Uchida thấy tài nghệ dương cầm của HXM đă khuyến khích anh nên tạo ra một nơi tụ tập để cho người Việt tị nạn đến để giải trí, đó là pḥng trà xem như đầu tiên của dân tị nạn Việt tại Nam Cali, mang tên Roosevelt, mà giai doạn đầu mới mở tháng 9, 1975 chỉ có 4 nghệ sĩ là Vũ Huyến, Huỳnh Anh, Hồ Xuân Mai và Linh Giang. Đêm đêm các bạn bè của Nam Lộc kéo đến đó gặp nhau hàn huyên an ủi trên bước đường tị nạn buồn hiu, th́ NL vẫn cô đơn, vẫn mang nặng trĩu một mối sầu suy tư của một Sài G̣n bỏ lại. Anh ngồi lại nhà tận dụng nguồn rung cảm vô biên này để sáng tác ra tác phẩm đă lay động hàng triệu con tim lang bạt khắp nơi, "Sài G̣n Ơi, Vĩnh Biệt!", một dấu ấn quan trọng cho NL:

“Sài g̣n ơi, tôi đă mất người trong cuộc đời
Sài g̣n ơi, thôi đă hết thời gian tuyệt vời
Giờ c̣n đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng… “

Chỉ có 45 phút ngắn ngủi, ư nhạc và lời văn đến như suối tuôn trào, anh hoàn thành tác phẩm này. Dịp 30 tháng 4 năm 1976, một năm sau khi Sài G̣n bị cưỡng chiếm, đài VOA qua ông Lê Văn đă phóng vấn Nam Lộc và ca sĩ Khánh Ly thu âm hát bài này và rồi phát thanh nhạc phẩm mà anh trải ḷng ḿnh vọng về quốc nội:

“Sài g̣n ơi, nắng vẫn có c̣n vương trên đường
Đựng ngày xưa, mưa có ướt ngập lối đường về
Rồi mùa thu, lá c̣n đổ xuống công viên
Bóng gầy c̣n bước nghiêng nghiêng
Hay đă khóc thương cho người yêu…”

Một dịp khác vào năm 1977, nhóm nhân viên đài BBC từ Luân Đôn sang Los Angeles phỏng vấn Nam Lộc về "Sài G̣n Ơi, Vĩnh Biệt!" và lại phát thanh vang về Việt Nam, điều này khiến người trong xứ nhận được tín hiệu là người ra đi cũng xót xa nhớ thương cố hương, hát cho một Sài G̣n đă mất không c̣n tên trên bản đồ khi người ta cố t́nh che đậy nó qua cái xác chết khô héo, quái dị lên cái tên thân yêu "Sài G̣n" của hàng triệu con tim vẫn bất phục ṭng bạo lực.

“Tôi giờ như con thú hoang lạc đàn
Từng ngày qua, từng phút sống quên thời gian
Kiếp tha hương, lắm đau thương, lắm chua cay
Tôi gọi tên ai măi thôi…”

Rồi một lần khác anh NL tâm sự vào một kỷ niệm đáng nhớ đă làm tim anh thật xúc động khi anh t́nh cờ đi dự một buổi họp của các nhà văn tị nạn Việt Nam khắp nơi tề tựu về họp đại hội tại Trung Tâm Văn Bút tại Orange County, Nam Cali. Nhà văn Duy Lam của nhóm Tự Lực Văn Đoàn đă kể lại cho cử tọa nghe rằng khi ông bị tù CSVN có một người bạn tù của ông tối tối "bạo phổi" nghe lén đài ngoại quốc và ghi chép lại lời bài hát "Sài G̣n Ơi, Vĩnh Biệt!", rồi hát lén cho bạn bè nghe. Người bạn tù đó về sau bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn, rồi bị nhốt biệt giam. Cái tín hiệu Nam Lộc gửi về quê hương qua VOA và BBC, người bên nhà đă tiếp nhận. Diễn giả Duy Lam không biết tác giả bài hát đă có mặt ngày hôm đó. Ngồi lẫn trong hàng ghế cử tọa anh NL đă cảm động đến rơi lệ v́ tín hiệu của anh đă chạy vào cả trại tù trong rừng sâu heo hút.

“Sài g̣n ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về
Người t́nh ơi, anh xin giữ trọn măi lời thề
Dù thời gian, có là một thoáng đam mê
Phố phường vạn ánh sao đêm
Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên.”


Khuynh Hướng Nhạc Đổi Thay:

Nhạc Nam Lộc có thể xem như chia ra hai khuynh hướng, anh cho biết trước 75 khi c̣n xông xáo với phong trào nhạc trẻ th́ nhạc anh hướng nhiều về nhạc t́nh ca, ca tụng t́nh yêu tuổi trẻ như các bài Chỉ Là Giấc Mơ Qua, Mùa Thu Lá Bay hay Cho Quên Thú Đau Thương. Bài ca sau này anh dịch từ nhạc nguyên thủy của ca sĩ Pháp Christophe (Main Dans La Main), gần đây được ca sĩ Bằng Kiều ca trong CD "Vá Lại T́nh Tôi" do Trung tâm Thúy Nga phát hành. Nam Lộc chuyển sang lời Việt của t́nh yêu quên đi những đau thương, le mal d'amour, khác với nghĩa bài ca nguyên thủy mang một hạnh phúc yêu đương quá nhẹ nhàng. Tuy vậy những nhớ nhung, những ưu phiền của cuộc sống trong lời nhạc Nam Lộc qua lối xử dụng chữ hay không kém, v́ t́nh yêu vốn nhiều trắc trở, nhiều ưu tư để Bằng Kiều ngân vang tiếng hát:

"Cho tôi quên đi nỗi ưu phiền cuộc đời
Cho tôi xin sống măi trong t́nh yêu
Cho tôi mang đôi cánh chim chiều lạc loài
Cho tôi theo câu hát lên tuyệt vời.
Cho tôi cánh lá rơi
Bay man mác khắp nơi
Khi em đến với tôi, nhớ đôi môi này
Cho tôi mái tóc xanh
Xanh như đáy mắt em
Đem theo hết nhớ nhung, nhớ nhung vơi đầy..."


 

 

Bài "Mùa Thu Lá Bay" mà Nam Lộc dịch sang lời Việt mà trước đây tôi cứ ngỡ lời do một anh nào rành tiếng Hoa chuyển ngữ v́ ư rất thanh thoát, văn hoa.

Nhưng từ khi ra tị nạn tại xứ ngoài âm hưởng nhạc anh lại chuyển đổi sang nhạc nhung nhớ quê hương, nói lên thân phận con người, lưu lạc ly hương, giá trị cuộc sống,... như các bài Người Di Tản Buồn, Sài G̣n Ơi Vĩnh Biệt, hay Xin Đời Một Nụ Cười.

 

Media Talk  Shows:

Nam Lộc được đón nhận như một nhạc sĩ hay một nghệ sĩ đối với quần chúng. Trước ống kính đài truyền h́nh hay trong các băng video, người ta thấy anh với khả năng ăn nói hoạt bát, ứng khẩu lanh lẹ đă giúp NL trong các lănh vực truyền thông đại chúng từ radio, TV, MC các buổi hội họp, các đại nhạc hội,... Khả năng thiên phú đó của anh đă có từ lúc trung học nay được thể hiện rơ nét hơn qua những chương tŕnh phát thanh về luật di trú giúp thính giả Việt Nam hiểu rơ hơn thủ tục bảo lănh thân nhân. Anh cho biết thời khóa biểu của anh khá bận rộn, hàng tháng NL phụ trách nhiều chương tŕnh phát thanh về di trú trên các hệ thống phát thanh loan truyền trên khắp nước Mỹ. Tôi nhớ vào năm 1994 trên đài Little Saigon Radio anh xuất hiện để nói về sự cải tổ luật Welfare tức những điều khoản đổi thay của luật An Sinh Xă Hội, v́ luật mới khó khăn hơn, người thụ hưởng cần hiểu rơ hơn. Càng ngày anh càng phụ trách thêm vào những chương tŕnh hữu ích, thiết thực đối với những người muốn t́m hiểu về quyền lợi của ḿnh qua các đạo luật về di trú và xă hội. Điển h́nh là anh phụ trách chương "Di Trú và Xă Hội" trên TV đài 18 Los Angeles điều hợp chung với xướng ngôn viên khả ái Thụy Trinh, TV Văn Nghệ Việt Nam vào mỗi sáng thứ Bẩy.

Cập Nhật Hóa Kiến Thức:

"Đời là một chuỗi học những điều mới", anh kể tôi nghe như vậy, tôi đồng ư v́ khi tôi làm bên điện tử đă phải vật lộn với các con chip bán dẫn mang chức năng của các mạch điện tử li ti mới được tung ra thị trường liên tục, người kỹ thuật viên phải cập nhật hóa chạy theo cho kịp. Bên y khoa các khám phá về cách trị liệu mới, các loại thuốc mới ra đời thường xuyên đ̣i hỏi các y sĩ hay dược sĩ phải cập nhật hóa kiến thức chuyên môn. Tương tự bên hành chánh, luật pháp thay đổi theo nhu cầu t́nh thế và thời cuộc, dấn thân theo ngành di trú và xă hội NL đă phải thường xuyên cập nhật hóa kiến thức chuyên ngành của anh.

Nhờ vào sự chịu khó học hỏi và thực hành trong chức vụ Giám Đốc về Tị Nạn và Di Trú đă tạo cho anh dịp trực diện với những thử thách, những chông gai của nghề nghiệp, anh đă trở thành một người vận động các chính giới ngành hành pháp và lập pháp (lobbyist) một cách rất hữu hiệu đối với dư luận công chúng cũng như đối với chính quyền Hoa Kỳ để bênh vực quyền lợi cho người di dân, trong số có rất nhiều người Việt. Nhờ vào những khóa tu nghiệp cao cấp cho các cấp hành chánh làm về lănh vực di trú, Nam Lộc là đă được thẩm định bởi Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ và Toà Kháng Cáo Về Di Trú (Board Of Immigration Appeal). Với sự xác nhận bởi Ṭa Án và Sở Di Trú như vậy, anh có thể đại diện thân chủ của ḿnh tại Sở Di Trú cùng Toà Án Di Trú để bảo vệ quyền lợi cho họ. Một trường họp anh thành công khi can thiệp cho một người Tây Tạng trốn sang Ấn Độ và xin được tỵ nạn nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Người này ngay lúc đầu bị chính phủ Mỹ bác đơn, khước từ lời thỉnh cầu, chính phủ Hoa Kỳ cho rằng ông có thể ở lại Ấn Độ mà không bị nguy hiểm về mặt an ninh. Tranh đấu cho thân chủ ḿnh, anh hùng biện nêu ra lập luận rằng dù không bị chính quyền đàn áp nhưng về mặt xă hội, đời sống người tị nạn đó sẽ bị kỳ thị khi giao tiếp với người bản xứ địa phương. Sự kỳ thị do nguồn gốc xă hội khiến cho tâm thần thân chủ bị sợ hăi như h́nh thức đe dọa trong cuộc sống không yên ổn. Nhờ vào biện luận trường hợp thành công này, mà sau đó Ṭa án đă nh́n nhận anh đuợc quyền biện hộ cho thân chủ trước cán cân công lư về những trường hợp liên quan đến ngành di trú.

Nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn” là một tác phẩm làm cho tên tuổi Nam Lộc nổi bật hơn, và thêm vào đó trên thực tế anh c̣n xông xáo hướng nhiều đến những việc làm từ thiện như đứng ra vận động tổ chức những chương tŕnh gây quỹ giúp người cùi, những nạn nhân nạn băo lụt ở quê nhà, trợ giúp thương phế binh tại Việt Nam, v.v... Lời kêu gọi của anh luôn được sự hưởng ứng từ phía những anh chị em nghệ sĩ.

"Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nh́n xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nḥa
Bạn ơi, đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau
Và đêm khuya về trong đôi mắt sâu
Đời như chôn vào con phố u sầu

Cho tôi xin lại một ngày
Ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời
Một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đọan đường
Hàng cây vương đầy bóng mát
Cho tôi an phận ngàn đời
Bên bờ đê vắng làng tôi..."

Anh cũng thường hợp với những phái đoàn nghệ sĩ đi thăm những viện dưỡng lăo để chia sẻ sự cô đơn của người cao niên sống xa quê hương. Dù mẹ anh đă không c̣n nữa, nhưng anh vẫn muốn chia sẻ nỗi cảm thông với t́nh người đến quư cụ cao niên lẻ loi đâu đó. V́ mục tiêu sống cho xă hội, anh cùng bè bạn c̣n đến thăm nom an ủi những phụ nữ bị ngược đăi, bạo hành như khúc di tản buồn của anh:

"Chiều nay có một người di tản buồn
Gọi tên ai gởi theo cơn gío bay
T́nh yêu ơi c̣n đâu những ngất say
Người yêu ơi giờ thương nhớ dâng đầy
Này em có bao giờ em biết rằng
Ở nơi đây mùa thu rất ngỡ ngàng
Chiều rơi nhanh và đêm xuống rất mau
Thời gian không c̣n những phút nhiệm màu"

Mẫu người văn nghệ nơi Nam Lộc có một sự liên quan mật thiết với mẫu người xă hội nơi anh. Đó là cá tính đặc biệt của anh. So sánh qua thời gian khi anh c̣n trong xứ và sau này tại hải ngoại, cá tính này hẳn rơ nét hơn lên như đă tŕnh bày.

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster:

Theo kư giả Nguyễn Ngân của tờ Việt Báo th́ có khoảng 20 ngàn đồng bào đa số là người Việt đă tham dự buổi lễ khánh thành Tượng Đài Việt Mỹ tại thành phố Westmister vào lúc 11 giờ trưa ngày 27 tháng 4 năm 2003. Hôm ấy Nam Lộc cùng cô Leyna Nguyễn làm MC cho buổi lễ. Đây là niềm ước mơ cho Nam Lộc nói riêng và cho hầu hết người dân VNCH yêu chuộng tự do nói chung. Người ta nh́n nhận anh Nam Lộc đă hoạt động ráo riết trong dự án đầy chính nghĩa này. V́ anh là người từng đóng góp công sức của ḿnh tích cực qua các buổi đại nhạc hội và đi đó đây vận động gây quỹ cho Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, một biểu tượng tri ân các anh hùng chiến binh trong QLVNCH được trang trọng an giấc ngàn thu tại vùng đất có đông đảo đồng bào nhất, ngoài quê hương Việt Nam ra.

Anh cho biết anh rất vui sướng và hănh diện trong cuộc sống tỵ nạn của ḿnh sau khi đă vận động một số rất đông đảo anh chị em tham gia vào 2 buổi Đại Nhạc Hội gây quỹ xây cất tượng đài vào năm 2003 với số tiền quyên góp được vượt xa mục tiêu của số tiền dự thu vào giai đoạn cuối trong việc h́nh thành dự án. Anh cũng góp phần cho hai ca khúc "Đường Nào Đưa Ta Tới Little Saigon" và bài hùng ca "Tượng Đài Chiến Khúc":

"Đi với tôi ta cùng về thăm Tượng Đài Chiến Sĩ uy nghi
Hát vang bài ca vinh danh bao Anh hùng
Đi bên nhau ta cùng về đây ngợi ca bao chiến sĩ hiên ngang
Hy sinh thân thế chiến đấu cho Tự Do
Bằng niềm tin Trên Cao ngàn phương người đi
Đem t́nh thương yêu vào nơi sầu bi
Bước ra trường sa không sợ bao khó nguy
Một ḷng v́ quê hương hùng bước đi tới
Giữ ǵn quê hương hạnh phúc nơi nơi
Quyết tâm làm cho Tự Do sáng ngời..."

Hai nhạc phẩm này có lời song ngữ, Anh ngữ do Lê Quang Anh, Việt do Nam Lộc. Tượng Đài Chiến Sĩ được dựng lên trong nỗi vui nức ḷng và hănh hiện cho những người yêu chuộng tự do nhân quyền.

Vận Động Ghi Danh Bầu Cử “Rock & Vote”:

Vào khoảng cuối năm 2004 để khuyến khích đồng thương tham gia bầu cử, triệt để sử dụng lá phiếu của ḿnh nói lên tiếng nói của cộng đồng, Nam Lộc hoạt động cùng với các bạn trẻ vận động dư luận quần chúng, điển h́nh qua buổi Đại Nhạc Hội Rock-N-Vote, gồm chương tŕnh ca hát miễn phí, theo mô thức của người Mỹ thường làm, hầu thu hút sự lưu tâm của quần chúng về tầm quan trọng của việc bầu cử, hay một tṛ chơi của các xứ sở có dân chủ tự do thật sự. Nam Lộc sát cánh với các bạn trẻ khi họ ra ứng cử trong ḍng chính.

Tôi nhớ hôm gặp anh NL tại Montery Park cùng anh Peter Morita, anh nêu lên nỗi ưu tư là niềm hănh diện Việt Nam ở tương lai tuổi trẻ Việt Nam, bất luận đảng nào, từ Trần Thái Văn hay Hubert Vơ, đến những tương lai nối tiếp Madison Nguyễn, Janet Nguyễn,... NL cho biết sẽ tiếp tục hỗ trợ, khuyến khích cho sự nở rộng tuổi trẻ Việt Nam măi vươn lên.

Tranh đấu cho Thẻ Xanh cho diện PIP và Tu Chánh Án McCain:

Tôi lật lại tờ báo cũ cho tin về anh Nam Lộc, "Sở Di Trú Hoa Kỳ sẽ bắt đầu nhận đơn xin thẻ xanh của những người diện PIP (Public Interest Parolee) thuộc các quốc gia Việt, Miên và Lào vào khoảng đầu tháng Một năm 2003", đó là tin mừng cho nhiều người mỏi ṃn ao ước có được thẻ xanh và rồi lời tuyên bố của Giáo Sư Đinh Việt, phụ tá tổng trưởng tư pháp Hoa Kỳ đă chính thức xác nhận như vậy vào trưa chủ nhật, 15 tháng 12, 2002 tại một buổi gặp gỡ được diễn ra trong hội trường của Hội Đồng Giám Sát (Board of Supervisors) thuộc hạt Santa Clara. Trong dịp này, GS Đinh Việt cũng ngỏ lời cám ơn và tuyên dương Nhạc Sĩ Nam Lộc, một gương mặt sáng giá đấu tranh không mệt mỏi v́ quyền lợi chính đáng của người di dân gốc Việt nói riêng và người di dân tại Hoa Kỳ nói chung. GS Đinh Việt đă nhắc lại những nỗ lực vận động và hết lời ca ngợi sự kiên nhẫn của anh Nam Lộc trong tiến tŕnh vận động cho đạo luật đạo luật thẻ xanh cho diện PIP từ nhiều năm qua, và cũng không quên cám ơn anh Nam Lộc đă tận tâm theo dơi cũng như thường xuyên nhắc nhở ông trong việc hoàn tất điều lệ để thi hành đạo luật kể trên.

VANG trao tặng giải Golden Torch Award tại Washington, D.C.:

Nh́n chung, với những nỗ lực đóng góp miệt mài, không mệt mỏi cho cộng đồng Việt Nam tại Mỹ, Nam Lộc là cái tên quen thuộc, rất gần gũi đối với nhiều người, có những vị cao niên tặng anh biệt danh thân ái "cậu 6 Nam Lộc", và những công lao của anh cuối cùng được nh́n nhận bởi tổ chức VANG và OC Register.

Với những hoạt động xă hội của anh, nhật báo Orange County Register đă đưa Nam Lôc vào danh danh sách 30 người Việt có nhiều hoạt động và một tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng người Việt, đặc biệt ở miền nam California, nhân dịp đánh dấu 30 năm tỵ nạn. Không những thế vào tháng 5 năm 2005 vừa qua anh c̣n được tổ chức VANG (Vietnamese American National Gala) trao tặng giải Golden Torch Award tại Washington, D.C. dành cho những thành tích phục vụ cộng đồng của anh.

“The Forgotten Ones” không c̣n bị bỏ quên:

Theo bản tin của kư giả Nguyễn Ngọc Chấn/CNN viết trên tờ Người Việt, ngày 18 tháng 8, 2005 th́ Nam Lộc cho biết nhân chuyến đi Houston lo tiếp tay với nhiếp ảnh gia Brian Đoàn phổ biến cuốn sách h́nh phóng sự “The Forgotten Ones” gây quỹ tiếp trợ việc tái định cư cho 2,000 đồng bào Việt Nam đang tạm trú tại Phi Luật Tân.

Họ là những thuyền nhân vượt biên cuối mùa bị thế giới lăng quên, thế giới tự do mệt mỏi và bỏ rơi họ trong sự xót xa của đồng hương Việt Nam như lời ca buồn bă của Nam Lộc chỉ xin thế giới một nụ cười, xin cuộc đời một nụ cười cho người tị nạn được bớt đi những khắt khe, những oan nghiệt đè lên tâm thức của 2,000 đồng bào ta:
 

 

“Tôi bước đi khi Saigon trong cơn hấp hối.
Như một người t́nh phụ thở hơi cuối cùng.
Tôi bước đi Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời,
Khu thương xá cửa khép cuộc đời,
Những con tầu ngơ ngác ra khơi…”

Là một người hoạt động về lănh vực di trú và xă hội, Nam Lộc đă kêu gọi sự liên kết các giữa tổ chức, đoàn thể có mục tiêu chung là mưu cầu việc xin cho 2,000 đồng bào thân yêu c̣n kẹt tại Palawan, Phi Luật Tân được tái định cư tại các đệ tam quốc gia. Anh cùng nhiều người khác đă bền bĩ vận động các chính giới Mỹ sớm thu nhận họ:

“Tôi bước đi qua đường rừng chông gai tăm tối.
Như cuộc đời ở lại từ khi mất người.
Tôi bước đi như con rết lê lết cuộc đời,
Như thân bướm đôi cánh ră rời,
Lấy u sầu che dấu tả tơi…”


Ta xin đời một nụ cười, dù cười oan khiên trong nước mắt thiếu vắng tự do, dù giá trị của sự tự do ấy ta đánh đổi bằng mạng sống hay bằng tiết trinh, một nụ cười quyết tâm bảo vệ tự do về cho quê hương, một nụ cười từ đồng hương cùng yêu thương nhau trên bước đường lưu vong:

“Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt!
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương!
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác!
V́ hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong!...”


Măi đến hai năm gần đây Hoa Kỳ mới chấp thuận trên nguyên tắc, cứu xét t́nh trạng của họ để cho nhập cảnh vào tái dịnh cư tại Hoa Kỳ. Hơn 20 năm, những đồng bào bất hạnh này không có quốc tịch, không tương lai định hướng. Trẻ em sinh ra và lớn lên phía sau hàng rào kẽm gai nay đă trưởng thành nhưng rồi chẳng biết thân phận sẽ trôi dạt về đâu:

“Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong manh sương gió.
Như một người t́m đường về nơi đáy mồ.
Tôi bước đi v́ không muốn làm kẻ tội đồ,
V́ tôi muốn lại kiếp con người,
Muốn cuộc đời c̣n có những nụ cười.”

Nhạc phẩm "Xin Đời Một Nụ Cười" vang lên bao xót xa, tôi nghe như anh cố nói lên sự vinh danh cái giá tự do nhân quyền mà người tị nạn chúng ta đă phải trả bằng máu và nước mắt. Lư ra tự do phải là cái giá trị căn bản tự nhiên mà mọi người phải có từ khi chào đời, nhưng người dân Việt cuối hậu bán thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 nước mắt oan khiên của người dân Việt vẫn măi tuôn rơi:

“Tự do ơi tự do! Tôi trả bằng nước mắt!
Tự do hỡi tự do! Anh trao bằng máu xương!
Tự do ơi tự do! Em đổi bằng thân xác!
V́ hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong!”

Trong một bức thư anh chia sẻ nỗi vui mừng khi được tin 230 đồng bào sẽ được đến Mỹ cuối tháng 9, 2005 này, họ nằm trong số 2,000 người c̣n lại tại Phi Luật Tân đă bị thế giới bỏ quên và "bán cái" cho đất nước Phi Luật Tân phải ra tay cưu mang từ nhiều năm nay. NL gửi lời cám ơn các thân hữu, những người đồng hành miệt mài tranh đấu cho quyền tị nạn cho những thuyền nhân này như Soeur Pascal Lê Thị Tríu, bà Khúc Minh Thơ, LS Trịnh Hội và nhiều bằng hữu, NL viết:

"Nếu trong đời người có những giấc mơ, th́ đây chính là một trong những giấc mơ mà tôi mong mỏi sớm được trở thành sự thật. Đọc những lời chia sẻ của Soeur Pascal, của chị Khúc Minh Thơ, và của luật sư Trịnh Hội, tôi không khỏi bùi ngùi nhưng là sự bùi ngùi của niềm hănh diện vô biên v́ đă hân hạnh được quen biết, và được làm việc chung với quư vị trong những năm tháng vừa qua..."

Báo CS Lên Án Nam Lộc:

Sau ba mươi năm nh́n lại t́nh h́nh văn hóa nghệ thuật, điển h́nh là băng nhạc sản xuất tại hải ngoại và ảnh hưởng của nó về trong nước ta mới thấy rằng một mặt trận văn hóa đă h́nh thành và đạt được nhiều kết quả hữu hiệu. Nhạc hải ngoại không những chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần của người xa xứ, chịu nỗi buồn lưu vong, mà ngày nay nó c̣n đáp ứng được mạnh mẽ nhu cầu “vọng hải ngoại” của hầu hết người dân trong nước, đặc biệt là người dân miền Nam. Phản ứng trước mặt trận tâm lư chiến vô h́nh này, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đă bất lực chống chọi lại khiến báo chí trong xứ lên án người Việt tại hải ngoại. Nam Lộc nằm trong danh sách nghệ sĩ bị kết án nặng nề. 

Theo báo Công An Thành Phố tại Sài G̣n đă lên án dĩa ca nhạc DVD "Hành Tŕnh 30 Năm" của Trung Tâm Asia th́ báo này cho đi tiếp bài "Cần ngăn chặn ngay đĩa nhạc Thúy nga Paris by night 77" do người viết là Phương Liên đă chỉ trích băng nhạc của Trung Tâm Thúy Nga, mà trong đó có nhạc của Nam Lộc, bài viết như sau:

"Quê hương không bao giờ chối bỏ bất cứ ai, kể cả những người vượt biên đă tự động rời bỏ quê mẹ nhưng đă được lư giải rất lệch lạc, xuyên tạc rằng không thể sống ở đất mẹ mà buộc phải bỏ đi như bài “Xin đời một nụ cười” của Nam Lộc mà 2 thế hệ ca sĩ ở hải ngoại là Khánh Ly và Thế Sơn, Trần Thái Ḥa gân cổ hát nghe rất lạc lơng.

Mượn những cuộc chia ly, nhiều bài hát phản động đă không ngớt lời ca tụng “chốn thiên đường tự do” và gián tiếp bôi xấu chế độ qua h́nh ảnh người t́nh khổ đau ở quê nhà. Mặc dù cuộc chạy trốn của những kẻ tha hương chẳng vẻ vang ǵ nhưng đă được các nhạc sĩ thời ngụy - những sĩ quan tâm lư chiến của chế độ cũ thất trận cố tô vẽ rất ngờ nghệch, nực cười là ra đi đầy dũng khí để t́m con đường tự do và quê mẹ giờ đây màu xám xịt..."

Người nhạc sĩ dùng lời ca nhạc điệu giải bày nhưng cảm nghĩ của ḿnh về thân phận của người con xa xứ, xa mẹ Việt Nam. Vậy họ có tội t́nh ǵ ? Tiếc rằng những ai chỉ trích hay nặng lời với những ca nhạc sĩ hải ngoại đă nói lên nỗi ḷng ly hương hay sự nhớ thương khi xa quê mẹ qua âm nhạc, những người kết án này đă không thực sự hiểu rơ được cái văn hóa nhân bản và t́nh tự quê hương dân tộc. Âm nhạc vi t́nh tự dân tộc sẽ khác hẳn với âm nhạc vi quốc doanh do hiện tượng cực đoan của xă hội chủ nghĩa. Bởi v́ âm nhạc quốc doanh chịu sự g̣ bó do yếu tố ngoại vi bản thể khiến âm nhạc đơn điệu và khô khan, nhất là được phiếm dị hóa bởi loài vẹt ngu ngơ và trơ trẽn, và cái nghệ thuật như vậy chỉ mang nỗi u mê trong tâm thức của tiêu lệnh gượng ép, nặng nề về sự độc đoán và bạo lực mà thôi.

 

*  *  *

Lời sau cùng của bài viết này, trong sự suy nghĩ riêng tư của tôi về Nam Lộc là anh đă thật sự thành công trên cả hai phương diện văn nghệ và xă hội:

Về mặt văn nghệ, có lẽ không ai không biết anh là một Nam Lộc nhạc sĩ, dù rằng do nghiệp dĩ hay do duyên nợ, với một số ca khúc tiêu biểu cho t́nh yêu và cuộc sống tị nạn ly hương đă đi sâu vào tâm hồn người thưởng ngoạn. Anh c̣n là một Nam Lộc MC, chững chạc qua phong cách xuất hiện trước công chúng, nhưng hẳn không kém qua nét vui tươi, dí dỏm.

Về mặt xă hội, anh là một Nam Lộc, giám đốc cơ quan USCC vùng Los Angeles. Nam Lộc tận tụy với những giúp đỡ cho đồng hương về những nỗ lực di trú, xă hội. Nam Lộc đến với tuổi trẻ vươn lên trong ḍng chính, người đồng hành của những ngườ́ cao niên, những cựu tù nhân CS sống đời tạm dung trên đất Mỹ, cần đến với Nam Lộc những kiến thức căn bản đối với những điều khoản chuyên môn về luật di trú. Sau hết anh là Nam Lộc của người tị nạn bất hạnh, "The Unforgotten Ones".

Với những đam mê trong nghề nghiệp, hay những cảm nghĩ gửi gấm nỗi ḷng trong những khúc hát của anh, tôi xin dược viết lại những đặc điểm của một người anh, một người bạn hay một người đồng hương đă đi sát với những người di tản buồn ly hương sau biến cố mất miền nam của tháng 4 đen, 1975, cho đến những người tị nạn CS cùng kẹt về sau này.

 

Việt Hải Los Angeles 

Phụ chú:


1) VH chân thành cám ơn quư anh Trường Kỳ, Nguyễn Ngân, Giao Chỉ, Nguyễn Ngọc Chấn/CNN cho phép sử dụng nguồn tài liệu của các anh về nghệ sĩ Nam Lộc.

2) Bài này viết để kỷ niệm ngày 230 người Việt tị nạn đầu tiên từ Palawan, Phi Luật Tân sang Mỹ định cư, "the unforgotten ones".