|
Người
Đi Giầy Chật
(nhấn vào h́nh xem lớn)
Anh Lư Khải B́nh đi họp Hội TQLC trên Seattle về giới thiệu tôi nhà văn
Huỳnh
Văn Phú rằn ri của binh chủng anh. Tôi biết tên anh qua tác phẩm "Chiến
Trường Trị Thiên và Những Người Lính Mũ Xanh". Đó một phóng sự chiến
trường mà anh kể lại những trận đánh khốc liệt mịt mù khói súng chiến
chinh.Tôi nhận lời viết giới thiệu quyển sách mới của anh. Đây là đứa
con tinh thần mà anh muốn kể lại sau bao nhiêu biến đổi của cuộc đời,
như sau chiến tranh năm 75, anh bị giam trong trại tù Cộng Sản, rồi được
sang Mỹ qua diện HO. Anh nh́n lại quá khứ, anh ngó xung quanh khung cảnh
nơi anh đang sống để nói lên những cảm nhận của ḿnh.
Quyển sách mới này mang tên "Những
Chuyện Kể Của Người Đi Giầy Chật". Tại sao tựa đề hơi khó hiểu về ư bóng
và tên lại quá dài, đến những 8 chữ? Thú thật tôi là người lại tiết kiệm
chữ nghĩa, tôi đặt tên bài viết này một tựa c̣n 4 chữ từ tên nguyên thủy.
Lư do v́ tác giả Huỳnh
Văn Phú đă giải thích rơ v́ sao anh đề tựa như vậy. Anh viết nêu lên lư
lẽ của ḿnh v́ sau khi miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, chúng đọa đày
anh vào tù nhỏ và đày ải người dân vào nhà tù lớn, tựu trung con người
bị gông cùng bó buộc mất đi quyền tự do thiêng liêng như chúng ta phải
có. Do vậy khi sang Mỹ giữa hai người bạn hàn huyên th́ một người lại
muốn mang giầy chật như sự kiện mất tự do làm anh đau chân. Để khi tối
về nhà anh tháo giầy ra để có cái cảm giác thư giăn v́ dược tự do. Bằng
lập luận mang tính chất triết lư ấy, anh h́nh thành 18 bài viết, viết
trong rung động của cảm xúc tự do kể lại những chuyện mang cái tư duy
của anh. 18 chuyện ngắn ư nhị, có chuyện mang ư vui dí dỏm như Để Bắn
Con Chim Đang Hót Trong Đầu Tôi, Nha Trang Như Một Cơn Mê, H́nh Như Là...
Nói Phét, Trào Phúng Trong Văn Chương B́nh Dân, Tuyết và Đàn Bà,... ,
rồi xen vào sách cũng có chuyện mang ư buồn v́ cuộc sống nghiệt ngă, khó
khăn như truyện Một Trường Hợp Bất Hạnh, Nuôi Con Nên Người, Những Ngày
Đi May, hay điều trớ trêu, chua xót trong bài Chuyện Nhà Văn, Nhà Thơ,
Nhà Báo.... Truyện sau cùng này khá tế nhị, nhưng tác giả đă bàn luận
ngay thẳng vào đề tài về chức năng và danh xưng của 3 giới được nêu
trong đề tựa, vốn liên hệ đến khía cạnh văn chương và báo chí. Anh viết
về Nhà Văn như sau:
"Có lẽ cũng do
trước đây tôi đă có in vài tác phẩm, viết một số truyện ngắn, phóng sự,
vài ba cái chuyện phiếm bàn ngang tán dọc cho đời thêm vui nên một số
bạn bè gán cho tôi cái danh xưng là “nhà văn”. Thật ḷng mà nói, tôi
không bao giờ dám nhận cái tước hiệu đó. Đối với tôi, hai chữ ấy là một
điều ǵ to lớn lắm, quá sức tôi. Nếu nói cho đúng, tôi chỉ là một người
viết văn. Viết văn có nghĩa rất đơn giản, là ráp những mẫu tự a,b,c,đ...viết
thành một câu văn có đầy đủ chủ từ, động từ, túc từ và nhất là phải đúng
chính tả để diễn đạt ư ḿnh muốn nói. Thế thôi. C̣n hay hay dở và người
đọc có hiểu ḿnh muốn nói ǵ không th́ lại là chuyện khác. Tại sao tôi
không dám nhận cái danh xưng “nhà văn” mà bạn bè gán cho ? Bởi v́ tôi
nhớ có đọc ở đâu đó một nhà phê b́nh văn học ngoại quốc (tôi quên tên)
có đưa ra lời nhận định đại ư về một nhà văn như sau :”Một nhà văn phải
là người có những sôi nổi, say mê, xúc cảm mạnh mẽ sâu xa với nỗi niềm
trắc ẩn tận đáy ḷng của con người và phải có khả năng diễn đạt lột trần
được những đặc tính, đặc thù của nó để sắp xếp lại thành một câu chuyện
duy nhất, hoàn chỉnh. Nhà văn phải biết bám chặt vào số lượng và chất
lượng của mỗi biến cố sống thực làm nền tảng. Điều đó vẫn chưa đủ v́ nhà
văn c̣n đ̣i hỏi phải có sự nhạy cảm với cuộc sống chung đồng thời phải
phơi bày được nhân sinh quan của ḿnh đối với thế giới quan.”. Nhà phê
b́nh chỉ mới nói đến sự say mê, xúc cảm, khả năng diễn đạt và sự nhạy
cảm vv...của nhà văn chứ chưa đề cập đến các yếu tố khác như tŕnh độ
học vấn, khả năng ngoại ngữ và sự hiểu biết sâu rộng về các trào lưu văn
học thế giới...mà một nhà văn hay một nhà viết tiểu thuyết cần phải có.
Tự xét ḿnh, tôi thấy tôi không có được những điều kể trên..."
Mặc dù trước đây tác giả đă xuất bản 9 tác
phẩm về văn xuôi rồi, như anh khiêm cung không dám nhận danh vị "Nhà Văn".
Anh tâm sự cuộc đời bôn ba từ giả sân trường đại học để vào trường Vơ
Bị Quốc Gia Đà Lạt, rồi kể về gia cảnh thuở nhỏ:
"Chẳng qua, cuộc
đời tôi bất hạnh từ nhỏ, cha mẹ mất sớm thiếu sự dạy dỗ của người cha,
thiếu trái tim đầy ắp yêu thương của người mẹ, phải vật lộn với đời quá
sớm nên bất cứ khi nào có thể được, tôi muốn làm được một điều ǵ đó
trong khả năng rất hạn chế của ḿnh: ghi nhận. Tôi chỉ là một người ghi
nhận những cảnh đời đă xảy ra, đau khổ hay hạnh phúc, của chính tôi hay
của người khác, công việc đó giống như một người chụp ảnh. Vậy thôi. Dĩ
nhiên, ảnh chụp xấu, đẹp tùy thuộc vào nhiều yếu tố, kể cả người chụp.
Và tôi là một người chụp ảnh tài tử, rất tài tử. Tôi xin nói lại một lần
nữa, một lần cho tất cả : không bao giờ tôi dám nhận ḿnh là nhà văn..."
Nếu so việc in sách ở Mỹ và miền Nam Việt
Nam th́ hai cấu trúc xă hội và sự phức tạp về chính trị đă khác nhau rồi.
Kỹ thuật in sách tại Việt Nam trước 75 c̣n dùng bảng kẽm và kỹ thuật in
ấn tại Hoa Kỳ ngày nay in bằng computer quá dễ dàng và mau lẹ:
"Sau ngày mất
nước, chúng ta người đi trước, kẻ tới sau, đến tạm dung tại quốc gia này
đă có những tự do mà trước đây khi c̣n ở quê nhà, chúng ta rất khó ḷng
có được. Tôi muốn nói “cách riêng” đến việc in và xuất bản thơ, văn, nói
chung là các ấn phẩm. Hồi ấy, muốn in một tập thơ, một tập truyện quả là
nhiêu khê, rắc rối, phải đi qua nhiều cửa ải. Trước tiên là đem bản thảo
đến Bộ Thông Tin để nơi đây kiểm duyệt rồi cấp giấy phép. Lưỡi kéo của
mấy ông trong cái cơ quan gọi là “Phối Họp Nghệ Thuật” này cũng ghê gớm
lắm, “cắt, đốt, cột” không nương tay...
Phải mất hơn 6
tháng trời chờ đợi tôi mới có được giấy phép trong tay. Đó là chuyện
kiểm duyệt, c̣n vấn đề in th́ cũng không giản dị chút nào. Trước tiên
phải có một nhà xuất bản nào đó chịu nhận in cuốn sách. Nhà xuất bản dĩ
nhiên sẽ xem qua nội dung sách và nhất là tên người viết có được ít
nhiều quen thuộc với độc giả không. Nếu họ nhận in th́ họ chi cho tác
giả một số tiền nào đó tùy giao ước giữa hai bên (có khi không có đồng
nào) và khi in xong tác giả được nhận riêng cho ḿnh 100 hay 200 cuốn
dành để tặng bạn bè. C̣n việc phân phối đến những nhà sách ở các tỉnh là
phần việc của nhà xuất bản với nhà phát hành. Có được một cuốn sách in
ra bày bán trong các nhà sách (hay sau đó bán “sôn” trên lề đường),
phải nói là trải qua một quá tŕnh gian khổ lẫn một chút đắng cay.
Chuyện in sách
của phe ta ở quê nhà trước 75 đại khái như thế. C̣n bây giờ ở trên xứ Mỹ
này th́ có vẻ dễ dàng hơn. Chẳng cần phải quan tâm thắc mắc ǵ đến việc
có cơ quan nào kiểm duyệt nội dung của cuốn sách, cũng không phải dài cổ
ra chờ đợi được cấp giấy phép xuất bản. Thoải mái vô cùng. Góp phần vào
việc làm cho cuốn sách ra đời dễ dàng, nhanh chóng là cái computer và bộ
solfware tiếng Việt với đủ kiểu chữ cùng kỹ thuật ấn loát rất hiện đại.
(Chả bù với trước kia ở Việtnam, người ta phải sắp từng chữ một, loại
chữ đúc ch́, rồi vỗ bản thảo tới lui nhiều lần để sửa chữa, sau đó in ra
từng tờ một trên loại máy in Typo cũ kỹ có từ thế kỷ thứ 19 ). Vấn đề
c̣n lại có lẽ quan trọng nhất là tiền chi phí in sách. Theo thời giá,
chỉ cần có khoảng trên dưới 2 ngàn bạc là có thể in được cuốn sách dày
khoảng 200 trang. Đối với những cây bút mà đời sống nhàn hạ thoải mái,
dư dă thời gian và tiền bạc đi du lịch nơi này chốn kia, chẳng phải lo
toan đến sinh kế hàng ngày, th́ 2 ngàn bạc chẳng có nghĩa lư ǵ. Đối với
họ, vấn đề là viết và in thành sách để người đời biết rằng ta là nhà văn
đây, cũng có tác phẩm đây, c̣n có bán được hay không hoàn toàn không
phải là chuyện đáng bận tâm lắm. Đa phần c̣n lại bỏ tiền ra in một tập
truyện, tập thơ, lấy lại được tiền vốn hay có lời chút đỉnh để có thể
tiếp tục in cuốn khác tiếp theo chỉ là niềm hy vọng mong manh. Tôi có
người bạn thi sĩ đang sống ở Cali, sang Mỹ theo diện H.O, c̣n đang hưởng
trợ cấp xă hội, đă phải bán chiếc nhẫn kim cương của vợ để có tiền in
một tập thơ góp mặt với đời."
Đó là cái kinh nghiệm và thực tế mà tác giả
chia sẻ. Tôi có anh bạn viết văn, anh gia nhập vào hội viên một tổ chức
văn học lớn, bề thế tại hải ngoại, anh cho tôi biết để là nhà văn th́
người cầm bút hay ôm keyboard theo nội qui của tổ chức th́ hội viên phải có
một tác phẩm xuất bản riêng. Nếu theo tiêu chuẩn như vậy, tác giả Huỳnh
Văn Phú có 9 cuốn sách, con số hên để tổ chức kia gọi anh là "Nhà Văn"
rồi. Về "Nhà Thơ" anh viết:
"Có người đă
từng nói :” Mỗi người Việt Nam là một thi sĩ “. Câu nói trên không có ǵ
quá đáng. Bởi xét một cách tổng quát th́ dân tộc tính của dân tộc Việt
nam rất dễ nhạy cảm trước những biến thiên của cuộc đời. Và thơ, nhất là
thể lục bát, là “bộ môn” dễ diễn đạt nhất, có lẽ ảnh hưởng sâu đậm từ
những vần ca dao và những bài hát ru được nghe từ thủa mới lọt ḷng. Thơ,
nói chung là Thi Ca, lắm lúc c̣n đứng cao hơn cả các ông Khổng, ông Lăo,
ông Tử...nữa là khác. Tuy nhiên, người làm ra được dăm ba hay rất nhiều
bài thơ không có nghĩa là đă trở thành nhà thơ, thi sĩ . Ngược lại, cũng
có người chỉ cần sáng tác một vài bài thơ thôi mà lại được đời xưng tụng
họ là thi sĩ ngay v́ cái hồn thơ và ngôn ngữ thơ của họ.
Tôi không nghĩ
rằng có người nào đó cố gắng viết rồi bỏ tiền ra in một tập truyện, tập
thơ chỉ với mục đích được người đời tặng cho ḿnh cái danh xưng là nhà
văn, nhà thơ...Cái danh hiệu có chữ NHÀ...đứng trước tên người viết này
coi bộ không dễ dàng chút nào. Không ai cấm sự “tự xưng” cả đâu nhưng
cái giá trị đích thực chỉ có thể có được là do người khác thẩm định.
Viết văn, làm thơ tuy không có cấp bậc, không có chiếu trên chiếu dưới
nhưng lạ lùng thay vẫn có sự phân định ngôi thứ một cách ngấm ngầm. Sự
phân định ấy là do cái đại đa số độc giả và nhất là do chính những người
trong cùng một giới. Có tiền cũng không thể mua được. Tôi tin như vậy..."
V́ văn
chương hay văn học tại hải
ngoại không có tiêu chuẩn xét về phẩm của văn
hay thơ, đó là yếu tố tế nhị được thẩm định bởi quần chúng, hơn là yếu
tố chủ quan do cảm tính.
Hăy đọc tiếp:
"Dĩ nhiên, cũng
có một số ít người, rất ít, làm được vài bài thơ, viết vài ba cái truyện
ngắn đă tự cho ḿnh là nhà thơ, nhà văn, nhà...ǵ ǵ đó ghê gớm lắm. Và
họ sẵn sàng đi đến nơi nào có hội họp, có sinh hoạt văn nghệ văn gừng để
được giới thiệu tên tuổi, để được đứng lên cho bà con cô bác chiêm
ngưỡng dung nhan, và để nghe một tràng pháo tay vỗ lên râm ran sau đó...Ôi,
quả thật cái “thị dục huyễn ngă” của con người trong lănh vực này cũng
mănh liệt không kém cái “thị dục nhục dục” chút nào.
Tôi tự hỏi những
người ấy có hiểu và cảm thấy, như tôi hiểu và cảm thấy, điều sau đây
không : viết văn, làm thơ là một sự vô cùng đau khổ. Đau khổ là bởi v́
lắm khi ta có cố gắng cách nào đi nữa cũng không thể nào diễn tả hết
được những điều ta muốn nói. Chính v́ sự đau khổ đó mà nếu như họ được
gán cho cái danh xưng là nhà văn, nhà thơ không xứng với họ th́ vô t́nh
đă mang lại cho họ sự đau khổ tột cùng hơn.Và tôi, ít ra cũng đă trải
qua những tháng ngày đau khổ đó. Thà là tôi đau khổ v́ “t́nh phụ” hay v́
“vô tích sự” c̣n hơn là được gán cho cái danh xưng mà tôi không xứng...".
C̣n về danh xưng "Nhà Báo" th́
sao? Huỳnh
Văn Phú nhận xét:
"Những vị này có
cái đặc biệt là tuy cũng viết ra những câu văn để tường thuật mọi tin
tức, thời sự nóng bỏng nhưng họ không được gọi là nhà văn mà người ta
gọi là nhà báo hay kư giả. Nhà báo hay kư giả có một trách vụ quan trọng
là thông tin và hướng dẫn dư luận quần chúng. Đức tính thiết yếu của một
nhà báo cần phải có là sự trung thực. Mẫu người này đ̣i hỏi phải có kiến
thức sâu rộng, khả năng phân tích và nhạy bén trước thời cuộc. Các nhà
báo Mỹ, Pháp hay các nước tiên tiến nói chung đều xuất thân từ các
trường đại học mà các môn họ theo học là những môn khó nuốt như chính
trị, bang giao quốc tế, các môn nhân văn...rồi sau đó phải theo học ở
một trường báo chí. Trước khi tốt nghiệp phải đi thực tập mờ người, lăn
lóc từ toà soạn báo này đến toà soạn báo khác, các ông chủ nhiệm, chủ
bút sai chạy có cờ, thử thách gian nan lắm chứ không phải một sớm một
chiều mà trở thành nhà báo, kư giả.
Trước năm 75 ở
quê nhà cũng có trường báo chí đào tạo các kư giả, thông tín viên tại
viện Đại Học Đalạt. Tôi c̣n nhớ trước năm 1975, đơn vị tôi cũng có mấy
ông Chuẩn Úy đă từng học và tốt nghiệp trường đại học báo chí về phục vụ.
Phải nhận rằng những vị xuất thân từ trường ấy ra rất xứng đáng, kiến
thức tổng quát và “nghiệp vụ” khá vững. Nghe họ kể lại các môn học trong
học tŕnh của họ mà phát khiếp. Như thế, muốn trở thành một nhà báo đúng
nghĩa th́ ít ra cũng phải trải qua những năm tháng khổ luyện kể trên.
Đó là nói chung, c̣n nói riêng
th́ cũng có những trường hợp ngoại lệ nghĩa là có những người trước đây
chưa hề qua một trường lớp báo chí nào, chưa hề tham gia vào “thị trường
chữ nghĩa” nhưng khi sang xứ Mỹ này th́ họ nhảy ra làm báo. Dĩ nhiên,
lúc ban đầu họ cũng gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại nhưng dần dà họ học
hỏi kinh nghiệm rồi nghề dạy nghề, họ tiến bước khá vững vàng. Và người
ta nhận thấy tại các tiểu bang có đông người Việt định cư, báo Việt ngữ
đủ loại, đủ kiểu xuất bản khá nhiều, có báo th́ bán nhưng phần lớn phát
không, để ngay tại các chợ thực phẩm để khách mua hàng đi ngang tiện tay
lấy về nhà đọc. Thôi th́ trăm hoa đua nở. Sống trên xứ người, tiếng Việt
ta không sợ phải thui chột đi mà c̣n có cơ phát triển mạnh hơn nữa là
khác. Và nỗi lo rồi đây 50 năm, 60 năm nữa không biết có người nào c̣n
biết đọc tiếng Việt nữa không là một nỗi lo không đến nỗi mất ăn mất ngủ
lắm. Sự có mặt của các báo Việt ngữ tại những nơi có nhiều người Việt
sinh sống là một điều vô cùng cần thiết, bởi lẽ chúng ta khi sang xứ này,
không phải ai cũng đều có khả năng Anh ngữ để đọc báo Mỹ. Đâu có người
nào ngủ một đêm, sáng thức dậy là giỏi tiếng Mỹ ngay mà phải qua một
thời gian trau dồi khá dài. Vậy th́ vấn đề c̣n lại đối những tờ báo Việt
ngữ này là nội dung của nó: Tờ báo có
thông tin trung thực và làm nhiệm vụ hướng dẫn dư luận quần chúng một
cách đứng đắn để phục vụ cộng đồng hữu hiệu không? V́ đây là xứ sở tự do
và nhất là chúng ta không hề bị ràng buộc vào luật pháp đối với các bài
báo bày tỏ quan điểm, lập trường chính trị...nên tờ báo có làm đúng với
“chức năng” của nó hay không th́ tùy thuộc rất nhiều vào tư cách của
người điều hành nó."
Đoạn văn tô đậm nói lên thiên chức của
người làm báo v́ lương tâm nghề nghiệp, thay v́ bị ám ảnh bởi nhu cầu
tài chánh rồi đi lệch đường. Thực ra khi ra hải ngoại, nhất là ở nơi ít
người Việt của thuở 75 khi mà sách báo Việt ngữ khan hiếm, những bà con
nghiền báo sẵn long đọc các báo, bất kỳ lọai nào v́ nhung nhớ tiếng
Việt. Ở giai đoạn đó người ta thường đâm ra dễ dăi.
Kế đến, bài
Houston, Đi Để Mà Nhớ cho tôi cái cảm nhận như tương đồng quan điểm
nhiều lắm và nhiều lắm. Tác giả viết:
"Trời
đất, Houston là Texas, là quê hương của những chàng cao bồi cưỡi ngựa
chạy như bay, hai tay hai súng, bắn phát nào trúng phát đó trong những
cuốn phim mà tôi say mê từ hồi c̣n cắp sách đến trường. Vùng đất ấy nào
có dính dáng ǵ đến chuyện tù đày, đói khổ, ngôn ngữ hoàn toàn bất lực
trong việc diễn tả các tội ác mà những người Cộng Sản Việt Nam đă mang
đến cho dân tộc đâu ? Tại sao tôi phải dài gịng như trên. Thật là kỳ
cục! Mà xét cho cùng, cuộc đời này đă kỳ cục rồi, bây giờ tôi có kỳ cục
thêm một tí nữa, thêm vài trang giấy nữa chắc cũng chẳng làm chết ai đâu.
Thủa tôi vừa mới lớn, trong tôi bắt đầu nẩy
nở những t́nh cảm mơ hồ, bâng quơ, lăng mạn như là t́nh yêu, tôi đă mơ
ước có một ngày nào đó trong đời ḿnh sẽ được đặt chân đến vùng đất của
những chàng cao bồi dũng cảm, hiên ngang, đội nón vành, hai tay hai súng...Tôi
mơ ước đến Texas cũng như người khác mơ ước đến Paris đi trên Đại Lộ
Champs-Elysées thênh thang, ngồi trên những chiếc ghế đá trong khu rừng
Boulogne thơ mộng, thả hồn theo gịng chảy của con sông Seine êm đềm với
những chiếc cầu bắc ngang thành phố...Và cảnh tượng ấy chỉ có trong trí
tưởng hoặc trong những giấc mơ dễ tan biến như những cuộc t́nh tôi đă
trải qua..."
Vào năm 1968, anh đă có dịp sang học khóa
huấn luyện thuộc về quân đội bên Texas, nên anh đă có những kỷ niệm xưa
hiện về như nhớ nhung một vùng đất mà như gợi về người t́nh bên xứ cao
bồi này. Anh kể về người bạn báo chí chỉ nghe nhau qua phone, anh chồng
gốc Bắc, vợ Nam, có đứa con gái lễ phép, ngoan ngoăn, và phát âm Việt
ngữ rất chuẩn, cháu chỉ chừng 6 hay 7 tuổi. Đọc đến đây tôi bỗng dưng
thấy như trường hợp của tôi, bạn tôi bên Houston, anh Tạ Xuân Thạc gốc Bắc,
chị Kim Anh người Nam, babysitting hai đứa cháu ngoại gái dưới 6 tuổi,
Ty và Emily rất ngoan, dễ thương, phát âm Việt ngữ khá chuẩn. Gia đ́nh
bạn ra tiếp đón anh niềm nỡ, trường
hợp của tôi giống như những ǵ anh nói.
Houston là vùng đất mà sự nồng nàn, hiếu khách khi cưu mang hàng ngàn
người Việt nạn nhân của cơn băo Katrina từ Mississippi, Louisiana và
Alabama năm 2005 đổ về đây lánh nạn. Huỳnh Văn Phú viết:
"Houston có cái khí hậu của Nha Trang hoặc
Vũng Tàu. Tôi không để ư nhiệt độ lúc này là bao nhiêu nhưng khá nóng.
Tôi đang ở miền Bắc, nơi mà bây giờ đă có những chiếc lá bắt đầu vàng uá,
sắp sửa ĺa cành, báo hiệu một mùa Thu sẽ đến, nhưng chỉ trong vài tiếng
đồng hồ, tôi đă chạm mặt với Houston, chạm mặt với cái nóng mà suốt đời
tôi rất quen thuộc ở quê nhà. Tôi có cảm tưởng như ḿnh đang về lại Sài
G̣n. Ôi, Sài G̣n trong trí tưởng của tôi. Đă sống và làm việc trên xứ Mỹ
này rồi nhưng sao mỗi đêm về, tôi vẫn như thấy ḿnh c̣n đang đi trên
những con phố quen thuộc của Sá G̣n. Bất cứ lúc nào, nhắm mắt lại, tôi
cũng có thể h́nh dung thấy rất rơ Sài G̣n. Thành phố dấu yêu đó măi măi
và măi măi ở trong tim của những người Việt đă ra đi từ trước 75 hay
thời gian sau này."
Đó là niềm nhớ không quên của anh là Sài
G̣n, Sài G̣n ngự trị trong tâm tưởng, anh thương Sài G̣n, nhưng anh từ
chối về lại nó khi kẻ thù c̣n ở đó, tôi chia sẻ sự đồng cảm nhận đó.
Chẳng phải chúng tôi quá khích. Nhưng với tôi CS không là con người, lũ
mọi rợ phá hoại xứ sở th́ đúng hơn. Anh tâm t́nh tiếp về Houston.
Houston đă cho anh thở cái hơi thở của quê hương, với cái khí hậu chớm
Thu mà sao như thể là “Nắng Sài G̣n anh đi mà chợt mát “. Anh đă nếm qua
một vài cơn mưa Houston, cũng đi thăm băi biển gần nơi đây và thăm trung
tâm không gian quốc gia NASA. Houston cho tác giả cám giác của Biên Ḥa
có núi Bửu Long, hay ngọn Chứa Chan ở Gia Rai, ngọn Thất Sơn ở Châu Đốc.
Ngày xưa sau đệ Nhị Thế Chiến khi nước Do Thái được tái lập mà hướng bắc
có Nazareth xuôi tận cực nam có Eilat, những người Do Thái trở về đất nước, họ
vui mừng, họ cúi xuống hôn trên mặt đất quê hương quư báu và đầy thân ái
cần có trong ḷng và ngoài đời. Tôi t́m một sự đồng cảm đó từ về t́nh
thương quê hương của tác giả, anh viết:
"Trời ạ, cái ǵ cũng nhắc nhở cho tôi một
quê hương đă mất cả. Tại sao ? Một chút nắng cũng là nắng Sài G̣n, một
chút mưa cũng là mưa Hậu Giang, một chút biển cũng là biển Nhatrang, một
chút lạnh cũng là lạnh Đàlạt, một chút mưa dầm cũng là mưa dầm xứ Huế,
một chút gió nóng thổi về cũng là gió Lào thổi đến Quảng Trị. Có c̣n ǵ
nữa không ? Ôi, sẽ là đau khổ biết bao cho một con người nếu trong tận
đáy hồn của anh ta không c̣n có một tí ǵ của một bóng h́nh cũ. Một h́nh
bóng có thể có thực, có thể không có thực nhưng nhất thiết là phải có.
Như bây giờ đây, trong tôi đang có một h́nh bóng của Sài G̣n năm nào..."
Anh đi thăm bạn bè của thuở đi học cho đến các
chiến hữu đă từng đổ máu bảo vệ quê hương, người c̣n, kẻ mất. Anh dâng
cảm xúc khi thấy phố Việt của Houston chuyển ḿnh, sinh động hơn, tấp
nập hơn và nhiều màu sắc quê hương trong nỗi nhớ hơn:
"Tôi đi thăm nhiều khu vực buôn bán của
người Việt trong thành phố, chẳng làm sao tôi nhớ hết được nơi nào là
nơi nào. Đối với một người đă mất quê hương là tôi th́ nơi nào có tiếng
nói quen thuộc của Bắc, Trung, Nam, có một chút phở tái, một chút bánh
cuốn, một chút mắm tôm, một trái cà pháo là quê hương đă ở đó rồi. Sau
California th́ Houston chính là nơi cho tôi thấy rơ lại quê hương nhất.
Nếu trước kia tôi đến San Antonio và ngây người v́ những điều mới lạ của
một đất nước lần đầu tôi đặt chân đến mà quên bẵng đi chàng cao bồi hai
tay hai súng, cưỡi ngựa bắn pằng pằng th́ bây giờ trong tôi cũng chẳng
c̣n tí ǵ h́nh ảnh của mấy chàng cao bồi đó nữa."
Trong các thứ t́nh yêu khi ta say sưa
tương tư hay lắm đam mê th́ tương tư về quê hương là t́nh yêu
cao đẹp nhất. Tôi nhớ ngày 75 khi sống
xa cố hương, Mẹ tôi nhớ nhà bà đă khóc, cái h́nh ảnh
đó làm tôi rơi nước mắt bởi v́ chúng
tôi như tác giả Huỳnh Văn Phú đă tương tư Sài G̣n hay tương tư xứ sở
Việt Nam theo từng nhịp đập của con tim.
Đó là chỉ nói sơ về những cảm nghĩ
của tác giả về văn chương, báo chí, t́nh hoài hương hay nỗi ḷng trong
kiếp sống viễn xứ của tác giả. Tiêu biểu cho một bài vui trong nhiều
chuyện vui dí dỏm của tác giả, v́ ng̣i bút của anh chứa đựng nét khôi
hài, xin mời quư bạn hăy đọc bài viết Trào
Phúng Trong Văn Chương B́nh Dân. Cụ Nguyễn
Văn Vĩnh khi xưa nhận xét về
người ḿnh vốn thích cười, th́ thật vậy sau ngày "cách mạng 75" hay ngày
"giải phóng" trong ư nghĩa không nói lái th́ phe CS thắng trận là một
kho cười vô tận đối với chúng ta, những người phe QG/VNCH:
"H́nh
như không có một “chuyên gia” nào đưa ra nhận định hoặc đánh giá xem dân
tộc nào trên thế giới có óc khôi hài cao nhất. Mặt khác, có lẽ v́ mỗi
dân tộc có cái “bản sắc” và nền văn hóa riêng của dân tộc đó cho nên
không ai dám tự nhận rằng người xứ tôi “khôi hài” và “trào phúng” hơn
người của xứ anh chăng ? Hẳn nhiên mỗi dân tộc có nụ cười riêng của họ.
Theo sự hiểu biết rất hạn chế và “tầm ruồng” của tôi th́ cái cười của
người Pháp khác với người Anh, người Mỹ, cũng không giống Ấn Độ hay Tô
Cách Lan vv...Và, bao giờ cũng vậy, khôi hài (trào phúng) luôn luôn dẫn
đến những nụ cười. Có thể là cười mỉm, cười cay đắng, cười ngậm ngùi,
cười hô hố, cười đau đớn... v́ tính chất mỉa mai, châm biếm hay diễu cợt
của câu chuyện khôi hài mang lại. Nói chung, khôi hài đem lại “cho đời
những niềm vui” nhiều hơn (tôi nói nhiều hơn) là nhắm tới cái tác dụng
cải tạo “xă hội”. Tôi vẫn nghĩ, nếu một người nào đó không hề có một tí
máu khôi hài chảy trong huyết quản hay một chút “sense of humor” th́
cuộc sống của người ấy thật là vô vị. Chán chết đi được !".
Có lẽ trong nỗi buồn của người dân "mất
nước", đúng hơn là chúng ta mất chủ quyền của VNCH, mà nh́n thấy đám CS
ít học, nhà mùa vênh vang tự phụ khi thống trị chúng ta,
hẳn nhiên chúng ta thật sự buồn ḷng. Lịch sử của cái
chiến thắng miền Nam như sự kiện "Chó ngáp phải ruồi" v́ bàn cờ quốc tế
sang trang do sự đổi chác của các cường quốc đă làm phong phú hóa văn
chương b́nh dân đại chúng thêm:
"Trước khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam,
qua tài liệu, sách vở và báo chí tôi biết rằng người dân ở miền Bắc rất
nghèo nhưng tôi không thể nào h́nh dung ra được họ nghèo đến mức nào.
Ngày mất nước, ở lại quê nhà, tôi phải đi “cải tạo” và năm 1976 lúc bị
đày ra Bắc tôi mới thấy rơ họ đă nghèo và sống một cuộc sống cơ cực quá
sức tưởng tượng của tôi. Những ngày đi lao động khổ sai ở trại 8 Hoàng
Liên Sơn, thỉnh thoảng tôi cũng tiếp xúc (lén lút) với những người dân
sống trong vùng. Tôi nhớ có biếu cho một cụ già đôi vớ nhà binh, cụ rất
quư. Đổi lại, cụ cho tôi thuốc lào, khoai ḿ, khoai lang, bắp...bất cứ
khi nào đi lao động ghé ngang “nương rẫy” của cụ. Cô con gái của cụ tên
là Đảo nói với tôi là cô mơ ước có được vài thước vải trắng và cô hỏi
tôi có loại vải đó không? Nếu có th́ cho cô để may quần áo. Khi chuyển
từ Nam ra Bắc, tôi có mang theo một cái bao vải trắng có bông, loại bao
đựng gạo, tôi đành biếu cô để cái bụng tôi được no nhờ những củ khoai,
củ sắn mà cô cho tôi. Thành ra, ta sẽ không lấy làm lạ chút nào khi biết
mỗi người dân miền Bắc hàng năm chỉ được mua (hay cấp) có 3 thước vải sô.
Và cái khôi hài đen ở đây là ngần ấy vải th́ làm sao che kín nổi “ông
thần nước mặn” trên cơ thể con người :
Một năm
3 thước vải sô
Làm sao che kín “bác Hồ”
em ơi !
Câu ca dao trên cho chúng ta thấy ngay cả
người mà Đảng đă cất công đánh bóng tôn sùng như một vị “cha già dân tộc”
cũng c̣n bị người dân mang ra sánh với cái bộ phận thường chỉ dùng để
chửi bới nhau th́ một ông Tướng “huyền thoại Điện Biên” bốn sao họ Vơ
cũng không thoát khỏi số phận khi ông bị Đảng hạ tầng công tác, chỉ lo
đặc trách kế hoạch sinh sản:
Ngày xưa
Đại Tướng cầm quân
Bây giờ Đại Tướng cầm
quần chị em
Người dân Việt sống dưới chế độ Cộng Sản
chán ghét lănh tụ của họ đến mức đă tạo ra những vần ca dao vô cùng bôi
bác và đă đưa cái chất khôi hài lên cao nhất :
Việt Nam
có một ông già
Râu dài tóc bạc tên là Chí
Minh
Ông thường uống rượu một
ḿnh
Có khi ông rủ Trường Chinh
uống cùng
Uống say ông nói lung
tung
Việt Nam ta sẽ sánh cùng năm
châu
Này ông, chuyện ấy c̣n lâu....
Hay :
Bác Hồ cùng với Bác Tôn
Rủ nhau xuống suối ḍm... mồm
Minh Khai.
Tôi tin rằng kể từ khi chủ nghĩa Cộng Sản
“ngự trị” trên đất nước Việt nam, cùng với những h́nh thức nghệ thuật
khác, nền văn học b́nh dân, nói chung là ca dao, đă góp phần không nhỏ
trong nhiệm vụ chống đối, mỉa mai, phỉ báng, nguyền rủa những con người
tuy trí khôn ngắn ngủi nhưng vẫn tự nhận là “đỉnh cao trí tuệ”, là
“lương tâm của thời đại”...Tiếc rằng v́ những điều kiện “khách quan”
chúng ta chưa có dịp thu thập đầy đủ và do đó, phần ca dao “chỉa” vào
chế độ Cộng Sản trong bài viết này phải nói là rất hạn chế. Bên cạnh đó,
tôi cũng tin rằng những vần thơ Bút Tre đến một ngày nào đó sẽ bị nhầm
là ca dao, v́ nó khôi hài quá, gần gũi quá, tự nhiên quá với những câu
như :
Chị em du
kích giỏi thay
Bắn máy bay Mỹ rớt ngay...cửa
ḿnh
hay :
Anh đi công tác Pờ
Lây
Cu dài dằng dặc biết ngày
nào ra
hoặc :
Anh đi công tác Ban
Mê
Thuột xong một cái lại về
với em
(Tôi nghĩ đến điều nhầm lẫn rất có thể xảy
ra như vậy v́ nhớ lại câu thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân “Hỡi cô tát nước
bên đường. Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, từ hồi nào đến giờ, dân
gian vẫn xem hai câu ấy là ca dao chứ không hề biết rằng chính thi sĩ
Bàng Bá Lân là tác giả)
Tôi cũng sưu tập được một số câu ca dao đề
cập đến mấy anh cán ngố Việt Cộng nói phét, tuy rất khôi hài nhưng không
thể ghi vào đây v́ nếu các bạn đọc qua, các bạn sẽ “nổi nóng” ngay. Chi
bằng, ta trở về ta tắm ao ta, để xem ông cha ta từ ngày xưa, qua những
vần ca dao đă có cái nh́n rất khôi hài về cơi nhân sinh ra sao..."
Sau tháng 4 năm 75, dân miền Nam nh́n đoàn
quân cán ngố Việt Cộng bằng những nụ cười chua xót, những câu vè mỉa mai:
Dép râu dẫm
nát đời son trẻ
Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai
Sự kiện mà
nhà cầm quyền cộng sản đă đổi tên nhiều con đường tại Sài G̣n như đường
Công Lư thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do thành Đồng Khởi. Trong ư
nghĩa bóng của sự đổi tên quả nực cười khi công lư đă chết v́ bức tử tức
tưởi và tự do đă bị cướp mất rồi. Những nụ cười khác
cũng được phổ biến khá rộng răi trên khắp miền Nam đất nước:
Nam Kỳ Khởi
Nghĩa tiêu Công Lư
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
Một nụ cười khác:
Chim xa rừng
c̣n thương cây nhớ cội
Việt Cộng về thành làm tội dân ta
Cái ngu xuẩn của
đám lănh đạo Cộng Sản được đưa vào văn chương b́nh dân:
Anh Đồng,
anh Duẩn, anh Chinh
Ba anh có biết dân t́nh cho không?
Rau muống nửa bó một đồng
Con ăn bố
nhịn, đau ḷng thằng dân
Người dân đói khổ thiếu thốn, ăn độn bo
bo của súc vật:
Nhân dân th́
chẳng cần lo
Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày
Hăy chăm tay cấy tay cầy
Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang
Chủ nghĩa Cộng Sản hoàn toàn thất bại v́
tham nhũng, thối nát và độc tài:
Dân đói mà
đảng th́ no
Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày
Đảng béo mà dân th́ gầy
Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?
Cái trí nhớ của tôi về kho cười đám Cộng
Sản được tác giả Hùynh Văn Phú kích thích năo trạng của tôi thêm phần
pha tṛ sặc sụa về cái đặc nét ngô nghê, nhà mùa của những kẻ mang bản
chất DNA của loài khỉ làm tṛ hề. Hăy đọc tiếp:
"Qua văn chương truyền khẩu từ đời này đến
đời kia, các cụ ta đă trào phúng về những chuyện ǵ ? Ôi, nhiều chuyện
lắm, ta sẽ bàn đến sau. Tuy nhiên, trước hết tôi phải dành ưu tiên đề
cập đến những vần ca dao “chỉa” vào cái chế độ dă man, tàn ác, cực kỳ
quái đản có một không hai trên trái đất này là Cộng Sản cái đă. Cái chế
độ đó là nguyên nhân chính của nhiều triệu người dân Việt chết trong hai
cuộc chiến và trên biển Đông, là nguyên nhân của sự nghèo đói, lạc hậu,
chậm tiến của dân tộc ta. Cái chế độ đó hiện ngự trị trên quê hương yêu
dấu của chúng ta bắt nguồn từ câu ca dao tân thời như sau:
Từ hang Pác Pó chui ra
Vươn vai một cái rồi ta chui
vào
Như các bạn đă biết, năm 1954, sau khi chiếm
được một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 trở ra, người dân miền Bắc phải
sống dưới chế độ kềm kẹp sắt máu. Dưới chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa, Việt Cộng đă từng áp dụng chính sách “ba khoan” hạn chế việc thi
hành nhiệm vụ thiêng liêng là “truyền giống” của người dân trong nước.
Ba khoan có thể hiểu đại khái là khi quen nhau th́ hăy khoan yêu nhau,
nếu yêu nhau rồi th́ khoan cưới và nếu lỡ cưới nhau rồi th́ khoan có
con. Những câu ca dao dưới đây với nhóm chữ “thụt ra thụt vào” rất gợi
h́nh đă nói lên hết cỡ cái khôi hài của chính sách :
Văn minh như cỡ nước Nga
Chẳng ai cấm cản thụt ra
thụt vào
Phong kiến như cỡ nước Tàu
Cũng đâu có cấm thụt vào
thụt ra
Anh hùng như nước Việt ta
Tại sao lại cấm thụt ra thụt
vào ?
Đó là chuyện cấm người dân”thụt”. C̣n chuyện
lấy vợ lấy chồng th́ sao ? Không phải hễ cứ yêu nhau là lấy được nhau
đâu. Đảng lúc nào cũng xía vào để cưỡng ép. Nhất là cái vụ cưới vợ cho
thương binh Việt Cộng. Hội Đồng Xă chỉ định cô X, con gái ông Bà Y phải
kết duyên cùng thương binh Z, không có cái chuyện từ chối hay phản đối
phản điếc ǵ hết. Cô X hay gia đ́nh cô có bằng ḷng hay không, không
cần biết, đám cưới vẫn phải tiến hành như đă định. Anh thương binh Z
phải lấy được nàng X v́ bác Hồ đă ra lệnh. Không những bác Hồ nói anh
phải lấy nàng mà cả Việt Minh và hai nước đầu xỏ là Nga sô, Trung Cộng
cũng đều “phán” như thế:
Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa
Cụ Hồ đă bảo rằng ta lấy
ḿnh
Không tin đi hỏi Việt Minh
Việt Minh cũng bảo rằng ḿnh
lấy ta
Không tin sang hỏi Nga-Hoa
Nga-Hoa cũng bảo rằng ta lấy
ḿnh ..."
Tác giả nghiên cứu về văn chương b́nh dân,
những câu vè đại chúng, anh thích thú khi viết nhận xét về nụ cười:
"Đó là óc khôi hài của người Việt ta nhiều
hay ít ? Tôi xin thưa mau rằng dân tộc ta là một dân tộc có óc khôi hài
rất cao.Tôi cho rằng đức tính khôi hài của người Việt nhiều khi c̣n vượt
qua và lấn át cả sự thông minh nữa đấy. Theo tôi, khó mà t́m được sự
khôi hài, trào phúng trong một con người đần độn, ngu si. Trào phúng,
trong một số trường hợp đồng nghĩa với châm biếm.Tôi t́m thấy trong kho
tàng văn chương b́nh dân, ông cha ta đă đề cập đến rất nhiều vấn đề
trong cuộc sống hàng ngày như những nụ cười, những cái hôn, những hẹn
thề, những lời than trách, khôn và dại, xem tướng và coi bói, t́nh và
tiền, tù và tội mà tôi đă từng bàn qua trong cuốn sách “Cơi Người Trong
Văn Chương B́nh Dân”. Dĩ nhiên, tôi cũng t́m thấy óc khôi hài, tính trào
phúng của dân tộc ta qua ca dao nhiều hơn là trong các tác phẩm viết
bằng văn xuôi như Truyện Tiếu Lâm của Ba Giai Tú Xuất, tiểu thuyết Giông
Tố của Vũ Trọng Phụng, những bài thơ của Tú Xương, Nguyễn Khuyến hoặc
những phóng sự thời đại xuất hiện trước năm 75 ở quê nhà như “Yêu Nhau
Đi Chiều Hôm Tối Rồi” vv...và vv...".
oOo
Thưa các bạn, tôi thích
đọc chuyện vui cười, mà sách của Huỳnh Văn Phú chứa nhiều truyện rất vui
ư nhị, lư thú, cười dí dỏm. Nên tôi nghĩ nên viết ra chia sẻ, chẳng lẽ
chỉ cười một ḿnh, th́ lại nguy to.
Nếu nhà
văn Pháp Francois Rabelais đă phát biểu từ thế kỷ 16 là: ”Cười là
một đặc tính của con người”, hay triết gia Bertrand Russel đă
nói là: "Nụ cười ít tốn kém nhất và là liều thuốc kỳ diệu nhất.".
Ông Russel là người Anh sống gần 100 tuổi, mất năm 1970, th́ hăy
vui với Francois Rabelais, với Nguyễn Văn Vĩnh, với Bertrand Russel và
với Huỳnh Văn Phú.
Tôi chỉ đơn cử ra 3
mẫu chuyện điển h́nh thuộc về xă hội trong tác phẩm Những Chuyện Của
Người Đi Giầy Chật, sách dầy 172 trang, giá bán đề 12 t́. Tôi nghĩ xứng
đáng để đọc những ḍng văn t́nh người, v́ đă bao ngày tác giả mang giày
chật, đă bao đêm tác giả suy tư viết lại những vui buồn của cuộc đời
trôi nổi của tuổi trẻ chiến chinh, của tù tội, của yêu đương, và của
tuổi già long đong, của nỗi nhung nhớ quê hương, khi mà cuộc đời chung
quanh ta rất đáng sống. Hăy đọc sách Huỳnh Văn Phú đi bạn, v́ nụ cười
của anh bàng bạc trong nhiều trang sách. Tôi xin dừng bút bằng một đoạn
văn đặc thù của sách anh:
"Điều sau cùng tôi muốn tŕnh bày là, trong phạm vi giới hạn của một bài
viết, tuy c̣n nhiều câu ca dao rất vui đề cập đến mọi vấn đề chung quanh
đời sống chúng ta nhưng tôi đành phải tạm dừng ở đây. Và nếu “một nụ
cười bằng mười thang thuốc bổ” th́ tôi ước mong bài viết c̣n nhiều thiếu
sót này chỉ mang lại cho các bạn được chừng một thang thuốc bổ thôi.
"
Mua sách
xin liên lac về tác giả qua email:
Huỳnh Văn Phú:
phuvhuynh@aol.com
Việt Hải, Los Angeles |