|
Hầu
hết các gia đình ở nông thôn đều trồng một vài hàng cau ở
trước hoặc sau nhà vừa để lấy quả, vừa tô điểm cho cảnh
yên bình nơi miền quê. Cây cau cũng gắn với nhiều tập tục
của dân ta: từ giao tiếp (miếng trầu là đầu câu chuyện),
cưới hỏi (buồng cau và cơi trầu dạm vợ), đến các bài ca
dao, khúc hát dân ca, những lời tỏ tình, cả đến việc thờ
cúng tổ tiên... Không chỉ vậy, cây cau còn cung cấp cho
chúng ta rất nhiều vị thuốc quý.
Rễ cau treo (hay còn gọi rễ
cau nổi - phần rễ cau con lơ lửng trên mặt đất) là một vị
thuốc có tác dụng bổ dương rất tốt. Cách thu hái và sử
dụng: Dùng dao lấy phần rễ cau còn lơ lửng trên mặt đất,
mỗi đoạn dài từ 1,5 - 2 cm, chẻ nhỏ, sao vàng, hạ thổ. Khi
có nhu cầu: lấy 50 gr sắc với 200 ml còn 50 ml, uống một
lần trước khi "hành sự" chừng 30 phút sẽ thấy hiệu quả.
Nếu lấy rễ vào lúc trời sắp mưa (lúc đó đầu mút rễ có màu
trắng) tác dụng sẽ cao hơn (bà con ta có kinh nghiệm là:
nếu đầu mút rễ cau vàng trắng càng chứng tỏ trời sắp mưa
to). Theo bác sĩ Trần Danh Tài - Chủ tịch Hội đông y tỉnh
Lâm Đồng thì chắc chắn là rễ cau treo an toàn và hiệu quả
hơn Viagra. Tuy nhiên, cũng xin lưu ý với các đấng mày râu
là "bản lĩnh đàn ông" phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thuốc
chỉ hỗ trợ một phần nào thôi, không nên lạm dụng. Nếu muốn
"nâng cao" phải rèn luyện thể lực một cách hợp lý, không
bệnh tật, không hút thuốc và nghiện rượu bia, tâm hồn
thoải mái, quan hệ vợ chồng phải nồng ấm, nếu không thì
thuốc nào cũng vô dụng.
Không chỉ có rễ cau, nhiều bộ phận khác của cây cau cũng
có tác dụng trị một số bệnh. Vỏ quả cau (đại phúc bì) là
quả cau đã bỏ hạt, phơi khô dùng để trị các chứng phù,
thủng, cổ trướng: mỗi ngày dùng 12 - 20 gr, sắc lấy nước
uống (cũng có thể kết hợp một vài vị khác để tăng tác
dụng). Hạt cau (binh lang): Dùng điều trị bệnh lỵ do
vi-rút amib: 0,5-1gr/ngày sắc uống. Trị sán: 50 gr hạt
cau, sắc với 150 ml, còn 50 ml uống một lần vào buổi sáng.
2 - 4 giờ sau nên uống thêm 15-20 gr đại hoàng, sắc với
200 ml, còn 100 ml uống một lần để tẩy giun sán ra ngoài.
Lưu ý: cả hai vị (hạt cau và đại hoàng) đều hơi độc, sau
khi uống sẽ có cảm giác say (do tác dụng này mà tẩy được
giun, sáng), cho nên nếu không quen thì không nên dùng và
khi dùng cần được theo dõi. Những người có các bệnh về tim
mạch (cao huyết áp, suy tim) hay gầy yếu thì không nên
dùng. Bẹ buồng cau (là vỏ bọc buồng cau trước khi trổ hoa,
cũng gọi là đại phúc bì): dùng để trị chứng thủy thủng, cổ
trướng như vỏ quả cau... Liều dùng: 20- gr, sắc với 200
ml, còn 100 ml uống 1 lần/ngày. Phấn cau là một loại nấm
có màu xanh lục, bám vào phần gần gốc cau. Cách lấy: cạo
nhẹ cho phấn bong ra, hứng vào chiếc lá rồi hòa với rượu
bôi vào các vùng bị lang ben, 1-2 lần/ngày, sau 7 - 10
ngày sẽ cho kết quả (liều lượng không hạn chế).
Bảo Trân |